Bài văn của học sinh giỏi: Phân tích bài thơ Vội vàng để chứng minh nhận định

Đề bài

Leptônxtôi từng nói

“Khi đọc xong tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu là tính cách tác giả được thể hiện trong đó”.

Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? hãy làm sáng tỏ vấn đề qua bài thơ “ Vội Vàng” của Xuân Diệu.

 Bài văn mẫu chứng minh nhận định của Leptônxtôi qua bài thơ Vội Vàng.

Mở bài

Khi chúng ta làm quen với một người lạ, cái để lại ấn tượng trong ta và cũng là cái quyết định xem ta có muốn thân thiết, hoặc tạo khoảng cách với họ, không chính là tính cách của người đó, tính cách là nét đặc trưng và là ấn tượng của mỗi người trong lòng người khác. Không những trong cuộc sống mà trong văn học cũng vậy, điều để lại ấn tượng và cảm tình đối với người đọc đó chính là phong cách nghệ thuật của tác giả. Nhà văn Nga Leptônxtôi đã từng nói rằng: “khi đọc xong tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu là tính cách tác giả được thể hiện trong đó”. Thật đúng như vậy, và điều này được thể hiện rõ ràng qua bài thơ “Vội Vàng” của Xuân Diệu, một bài thơ hay và mang lại nhiều rung cảm trong lòng người đọc.

Thân bài.

Giải thích nhận định của Leptônxtôi

Thông thường người ta hay nói đến tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học, nhưng ở đây nhà văn Leptônxtôi lại đề cập đến tính cách tác giả. Đây là cách nói mới mẻ và đầy đủ ý nghĩa, ta hiểu tính cách tác giả ở đây chính là phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ nhưng phong cách nghệ thuật ấy được hình thành nên từ lối sống quan niệm sống và ảnh hưởng bởi cuộc sống thực tại, sự trải nghiệm cuộc đời của người nghệ sĩ. Ý kiến của LepTônxtôi nhằm khẳng định vai trò và ý nghĩa của phong cách nghệ thuật trong sáng tác văn chương. Phong cách của người nghệ sĩ trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật là rất quan trọng, phong cách của nghệ sĩ chính là cái khác, cái nổi bật để tạo nên sự ấn tượng cho người đọc và để phân biệt với các nghệ sĩ khác. Mỗi con người sinh ra có một giọng nói riêng, mỗi loài chim có một tiếng hót riêng, từng loài hoa có vẻ đẹp riêng tư riêng và người nghệ sĩ cũng vậy cũng cần phải có phong cách của riêng mình, bởi đó chính là thước đo cho sự vươn tới thành công tạo ấn tượng trong lòng người đọc của nhà văn, nhà thơ thực thụ tài năng.

Phân tích bình luận ý kiến của Leptônxtôi

Sê khốp từng nói nếu một tác giả không có lối đi riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn học được,  vì sao lại như vậy? chúng ta biết rằng xã hội nào văn học đấy, cùng sống trong một hiện tượng xã hội, cùng nhận thức được vấn đề của sự việc, nếu mỗi người nghệ sĩ cũng không có phong cách riêng của mình tạo cho mình cách nhìn mới mẻ mẻ, không biết khám phá những điều chưa ai khám phá thì tác phẩm của họ sẽ chẳng có nét gì nổi bật, thậm chí bị chìm xuống so với những tác phẩm nghệ thuật khác, bởi độc giả không có chút ấn tượng gì với một tác phẩm không có sức hút không có điểm nhấn. Nhưng nếu trong rất nhiều tác phẩm cũng viết về một đề tài một nội dung nhưng người nghệ sĩ biết thể hiện phong cách nghệ thuật cá nhân thông qua tác phẩm, biết khai thác ở những góc độ mới nhìn nhận sự việc theo quan điểm của mình thì tác phẩm đó sẽ trở nên nổi bật so với các tác phẩm dùng để tải khác.

Trong phong trào thơ mới, trên văn đàn đã xuất hiện rất nhiều nhà thơ tài năng, các tác phẩm đặc sắc, nhưng trong tất cả các thi nhân của giai đoạn này thì Xuân Diệu được đắnh giá là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới bởi trong cùng một thời đại “lộn xộn”. đất nước bị thực dân Pháp xâm lược chúng mang những truyền thống văn hóa của chúng sang Việt Nam khiến đất nước rơi vào tình cảnh “Á, Âu, xã hội Tây, tàu nhố nhăng”. Trước tình cảnh này nhiều nhà thơ không giấu được buồn chán, nhiều người còn muốn thoát ly khỏi hiện thực cuộc sống để đến với chốn bồng lai. Ta biết đến Huy Cận với nỗi buồn “sầu vạn kỉ” trải dài trong tác phẩm nghệ thuật trước cách mạng tháng 8, ta biết đến Lưu Trọng Lư với mùa thu buồn trống vắng, Thế Lữ với một khối căm hờn và mong muốn được thoát khỏi phải sống tù túng, nhưng vẫn quẩn quanh trong bê cắt. Trong khi các nhà thờ khác đang buồn sầu chán nản thì Xuân Diệu đã thể hiện một cách nhìn một quan niệm sống hoàn toàn khác.

Chứng minh nhận định của  Leptônxtôi qua bài thơ Vội Vàng

Là người mang trong mình những tri thức của cả văn hóa phương Đông lẫn phương tây Xuân Diệu là nhà thơ có tư tưởng thẩm mỹ kết hợp giữa cổ điển và hiện đại. Đặc biệt, ông có phong cách nghệ thuật hoàn toàn khác với những nhà thơ khác. Độc giả biết đến Xuân Diệu là một nhà thơ có nguồn cảm hứng mới lạ là, một người sôi nổi luôn thể hiện khao khát giao cảm, nồng cháy, cuồng say với cuộc đời. Xuân Diệu luôn ý thức được sự thật, sự của đời người vì vậy luôn có thái độ sống vội, sống tích cực. Ngoài ra điều nổi bật ở Xuân Diệu là người khác ấn tượng, đó là ông là nhà thơ của mùa xuân, của tình yêu và tuổi trẻ, luôn có cái nhìn “xanh non, biếc rờn” . Trước cuộc đời và chính cái tôi độc đáo ấy đã giải phóng ước lệ phi ngã của thơ ca cổ điển. Cá tính nghệ thuật này đã được Xuân Diệu thể hiện qua rất nhiều tác phẩm của mình, nhưng có lẽ bài thơ “Vội Vàng” là bài thơ thể hiện được phong cách và quan niệm sống của tác giả một cách rõ nét nhất. Bài thơ “Vội vàng” được rút ra từ tập thơ thơ viết năm 1938 và là bài thơ tiêu biểu trong tác phẩm mà Xuân Diệu viết trước cách mạng tháng 8.

“ Nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, thì gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu”. Có lẽ là vì sự táo bạo của ông được thể hiện trong thơ.

“ Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Trong cả một bài thơ theo thể 8 chữ, chỉ có 4 câu thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn, một thể thơ phù hợp cho việc thể hiện những cảm xúc về vần của Xuân Diệu. Điệp ngữ “Tôi muốn” được nhắc lại hai lần cùng với đó là 2 động từ mạnh “tắt” và “buộc” đã làm nổi bật khao khát của nhà thơ. Đó là khao khát “tắt nắng”, “buộc gió” để giữ lại màu hoa “cho màu đừng nhạt mất”, để giữ lại sắp thơm “cho hương đừng bay đi”. Đó là khát vọng chiếm đoạt quyền năng của tạo hóa để buộc hương hoa thắm mãi bên đời. Ngông cuồng hơn cả là nhà thơ muốn vũ trụ ngừng quay thời gian dừng lại để thi nhân tận hưởng được những phút giây tuổi trẻ của đời mình. Ta cảm nhận được một dòng cảm xúc mạnh mẽ, một khát vọng sống mãnh liệt để được tận hưởng trọn vẹn cuộc đời, tuy nhiên có thể làm mọi thứ dù cho đó là những hành động rất táo bạo gần như không thể thực hiện được, (tắt nắng, buộc gió).

Từ khao khát, mãnh liệt được giao cảm với cuộc đời đó. Xuân Diệu đã kiếm tìm những điều tươi đẹp, đã khám phá ra vẻ đẹp phơi phới, tình tứ của mùa xuân thông qua những cảnh vật thiên nhiên.

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của Yến Anh này đây khúc tình si

Và này đầy ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa”

Xuân Diệu luôn nhìn cuộc đời bằng cái nhìn “xanh non, biếc rờn”, phải là một người rất yêu đời yêu thiên nhiên thì nhà thơ mới có thể cảm nhận được từng chuyển biến của sự vật như thế. Xuân Diệu đã phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh vật đang vào độ thanh tân nhất, diễm lệ nhất. Một bức tranh hội tụ đầy đủ những hương thơm, ánh sáng và màu sắc âm thanh. Đặc biệt cảnh vật hiện lên đều có đôi có cặp: “ Ong Bướm, tuần tháng mật”, “ hoa, đồng nội xanh rì”. Thi sỹ như đang đứng trước bức tranh thiên nhiên mà chỉ trỏ: “Này đây hoa”, “ này đây lá”, “ này đây ánh sáng”. Nhà thơ đã mở lòng mình để cảm nhận và thưởng thức từ mọi giác quan như đang muốn ôm trọn sự sống ngồn ngộn vào lòng mình. Thiên nhiên như một bữa tiệc trần gian đầy những thực đơn quyến rũ còn có cả Ong Bướm lượn tình tứ, ngọt ngào, hoa đua nhau khoe sắc tạo nên “đồng nội xanh gì”, cây cối đâm chồi nảy lộc lên những “cành tơ phơ phất”. Điểm vào bức tranh ấy là một ánh sáng lấp lánh, và tiếng hót của loài chim Yến anh đang ca “ khúc tình si”. Cuộc đời đang tràn đầy nhựa sống và thi nhân đang tận hưởng một cách say đắm. Khi các nhà thơ khác muốn thoát lên trên thoát lên chốn bồng lai thì Xuân Diệu đã bày tỏ rằng:

“ Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần

Chân hóa dễ để hút mùa dưới đất”

Một khát khao sống đến mãnh liệt, không muốn rời xa cuộc đời không muốn sống sống mờ nhạt, sống vô nghĩa.

“ Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời

Kẻ đựng trái tim trên máu đất

Hai tay chín móng bám vào đời”

Chẳng kiếm ở nơi đâu một hồn thơ dạt dào đến thế. Chính cảm hứng và trôi nổi rất “Tây” đó mà Xuân Diệu đã phải phá bỏ những ước lệ phi ngã cổ điển, khi mà trong thơ văn xưa thi nhân lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp

“Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

( Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhưng với Xuân Diệu, con người là chuẩn mực cho cái đẹp. Mùa xuân trong thơ xưa là:

“ Mùa xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

( Nguyễn Du)

Thì xuân diệu chỉ diễn tả hết tất cả vẻ đẹp, sự tươi ngọt đó chỉ qua một hình ảnh so sánh.

“ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Mai ước lệ phi ngã cổ điển đã được giải phóng. Ta cảm nhận được vẻ đẹp của mùa xuân như sự ngọt ngào của “ cặp môi gần” tình tứ.

Chính vì quá yêu cuộc sống, muốn được giao cảm với đời mà nhà thơ mang trong mình tâm trạng vừa sung sướng, vừa tiếc nuối vì sợ thời gian tuổi trẻ sẽ trôi đi mất, tiếc nuối mùa xuân ngay khi đang ở trong mùa xuân.

“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Người ta nói Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ quả thật không sai, xuân diệu trọn viết về mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, chọn tuổi trẻ cái tuổi cuồng nhiệt và sôi nổi nhất của cuộc đời và tình yêu là tình cảm có nhiều cung bậc cảm xúc nhất của con người. Thật là tinh tế! nhà thơ quan niệm rằng:

“ Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”

Ta cảm nhận được sự hoài nghi băn khoăn và không giấu nổi sự lo lắng, vì quá yêu tuổi trẻ nên điều thi sĩ sợ nhất là tuổi trẻ qua đi tuổi già mau tới, bởi khi đã bước qua tuổi trẻ thì con người không thể quay lại ngược với thời gian được nữa đâu. Xuân Diệu đã lấy cả sinh mệnh cả thể của mình để trần tình làm thước đo của thời gian. Mà đó cụ thể là, quãng ngắn nhất của cuộc đời, tuổi trẻ:

“ Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thăm lại!

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nếu bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Chữ xuân được lặp đi lập lại nhiều lần. xuân vừa là “xuân của đất trời” vừa là “xuân của tuổi trẻ”. Nhưng mỗi lần nhắc lại bắt gặp sự ngậm ngùi của thi nhân. Nhà thơ ý thức được sự phản chiếu của đời mình, ý thức được rằng mùa xuân của thiên nhiên thì vẫn hoàn toàn nhưng tuổi trẻ của con người thì chỉ đến một lần duy nhất. Ở cái tuổi trẻ đầy năng lượng đó, thi nhân muốn say đắm, muốn cuồng nhiệt đến mức cảm thấy lượng trời vẫn còn chật. Tác giả sử dụng hệ thống từ ngữ tương phản đối lập, “xuân tuần hoàn”, “tuổi trẻ chẳng hai lần”, “còn”, “chẳng còn” làm nổi bật tâm trạng nuối tiếc thời gian của cuộc đời. Vũ trụ có thể vĩnh viễn, Mùa xuân có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của con người chỉ có một lần đã qua là mãi mãi. Ta cảm nhận được những tiếng thở dài của thi nhân khi bâng khuâng tiếc nuối nghĩ về một ngày nào đó mình sẽ không còn có thể cảm nhận được bao thanh sắc của cuộc đời được nữa.

Vì suy nghĩ lo lắng rằng đời người là hữu hạn, cái gì rồi cũng sẽ qua đi, nên trong cảm nhận của mình thi nhân thấy vạn vật cũng như đang tiếc nuối chia ly.

“Mùi tháng năm đều sơm bị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hơn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa”.

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát, mỗi khoảnh khắc là sự mất mát đối với từng cá thể. Nhà thơ có thể cảm nhận rõ được “mùi năm tháng”, và “vị chia phôi”, dạy lên khắp không gian là than thở, tiễn biệt. Phần đời sinh bệnh của cá thể đang ra đi không thể nào tái tạo

tạo được. Tác giả lo lắng tiếc nuối khi nghĩ về phần đời sắp sửa tàn phai của mình nên cũng cảm thấy vạn vật cũng đang than thở theo. Xuân Diệu quả thật ham sống đến cuồng nhiệt, một nét phong cách mà khó có thể tìm được ở những nhà thơ cùng thời khác. Ông yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời, vì vậy ông chỉ muốn nắm giữ tất cả tinh hoa trong cuộc sống là của riêng mình, một sự tham lam rất thú vị và đáng yêu.

Khổ thơ cuối cùng thể hiện rõ nét nhất niềm khát khao, sống mãnh liệt của thi nhân:

“Chẳng bao giờ tôi chẳng bao giờ nữa

Mau đi thôi mưa chưa ngã chiều hôm

Ta muốn ôm!

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn biết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước và cây và cỏ rạng”

Đây là đoạn thơ mang đậm chất phong cách của tác giả, khát khao hưởng thụ cuộc sống đến vội vã, vội vàng. Chỉ với 3 chữ “ Ta muốn ôm” được tách riêng ra thành một câu ta thấu hiểu hết được cái ước mong mãnh liệt của thi sĩ muốn dành hết cho mình cả sự sống mơn mởn”, những gì tươi nhất đẹp nhất ở cõi trần thế. Sau khi đã ôm trọn cả sự sống vào lòng khi ngân còn muốn “siết”, muốn “thâu”, muốn “say”. Chao ôi! dường như thi sĩ muốn mình phải sở hữu tất cả những gì tươi đẹp nhất. Một sự sống của mình không đủ thi nhân còn muốn ôm thêm những sự sống khác vào lòng. Đoạn thơ ngắn nhưng có 4 từ “ ta muốn” lập đi lập lại thể hiện nhịp điệu hối hả, chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít cuống quýt, một khát khao đến ham hở, cuồng nhiệt của nhà thơ, muốn “ say cánh bướm với tình yêu”, muốn “ thâu trong một cái hôn nhiều”, muốn hút hết vào lòng nhựa sống dạt dào để rồi:

“Cho chếnh chóang mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thành sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

Thi sĩ như con ong bay đi hút mật đến no say “ chếng choáng”. Say mê đến mạnh bạo muốn cắn vào xuân hồng cho thích thú cho thỏa mãn. Đây chính là đỉnh điểm khát khao cháy bỏng của nhà thơ, bao nhiêu niềm ham sống mong muốn được say mê với đời đã được nhà thơ thể hiện rõ nhất rất mãnh liệt và kết thúc là một cử chỉ thật đáng yêu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

Phong cách của xuân diệu được tạo nên bởi lí tưởng sống, quan niệm sống tích cực của ông, ông luôn nhìn đời bằng cặp mắt “xanh non biếc rờn”. Ông yêu những vẻ đẹp tươi tắn của thiên nhiên, yêu mùa xuân, yêu cuộc đời. “ Cái quan trọng trọng tài năng văn học và tôi nghĩ rằng cũng có thể trong bất kỳ tài năng nào là cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của riêng mình” (Tuốc-ghê -nhép). Quả thật điều gây hứng thú cho người đọc chính là phong cách của nghệ sĩ. Bởi khi thưởng thức một tác phẩm đặc sắc, mang đậm phong cách của tác giả thì người đọc sẽ ấn tượng và cảm tình từ đó sẽ yêu quý và trân trọng những tác phẩm của người nghệ sĩ đó và nghệ sĩ sẽ thành công trong sự nghiệp sáng tác của mình, tạo được dấu ấn cho thời đại.

Nghệ thuật cũng là yếu tố tạo nên sự thành công cho tác phẩm, bên cạnh phong cách và tài năng của thi sĩ. Bài thơ mang đậm chất trữ tình lãng mạn, nhưng không quá bay bổng mà lại gần gũi thân quen, ngôn ngữ trong thơ giao hình ảnh kết hợp giữa chất cổ điển lẫn hiện đại thể thơ 8 chữ nhưng xen lẫn vài dòng thơ ngũ ngôn dòng thơ 3 chữ, 10 chữ tạo điểm nhấn cho tác phẩm. Nhờ những nét nghệ thuật đặc sắc đó mà vội vàng trở thành bài thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới, được nhiều độc giả yêu quý.

Phong Cách độc đáo mới lạ, chính là bước đệm dẫn đến sự thành công của một nghệ sĩ, nhờ có tài năng và phong cách nghệ thuật đặc sắc Xuân Diệu đã trở thành một nhà thơ nổi tiếng nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới và giành được nhiều cảm tình từ độc giả ở mọi thế hệ./.

Xem thêm : VỘI VÀNG , THƠ MỚI  LÍ LUẬN VĂN HỌC