Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn-bài 3

Tài liệu Văn

CHUYÊN ĐỀ DUYÊN HẢI 2018

 RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN

MỤC LỤC

 

PHẦN MỞ ĐẦU.. 1

  1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
  2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2

PHẦN NỘI DUNG.. 3

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT.. 3

  1. Những vấn đề về đọc hiểu tác phẩm văn học. 3

1.1. Khái niệm đọc hiểu. 3

1.2. Các cấp độ đọc hiểu. 3

  1. Người đọc là học sinh chuyên Văn. 4

2.1. Các loại hình người đọc. 4

2.2. Phân biệt người đọc là học sinh chuyên Văn với người đọc xã hội 4

2.3. Mối quan hệ giữa bạn đọc – học sinh chuyên Văn và tác phẩm.. 5

  1. Một số phương pháp đọc hiểu tác phẩm văn học. 6

3.1. Đọc hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại 6

3.1.1. Thể loại thơ trữ tình. 6

3.1.2. Thể loại truyện ngắn. 6

3.1.3. Thể loại tùy bút 7

3.1.4. Thể loại kịch. 8

3.1.5. Thể loại tiểu thuyết 8

3.2. Đọc hiểu từ góc độ Ngôn ngữ học. 9

3.2.1. Giới thuyết vấn đề. 9

3.2.2. Phương pháp đọc hiểu. 9

3.3. Đọc hiểu từ góc độ Mĩ học. 9

3.3.1. Giới thuyết vấn đề. 9

3.3.2 Phương pháp đọc hiểu. 9

3.4. Đọc hiểu từ góc độ Phân tâm học. 10

3.4.1 Giới thuyết vấn đề. 10

3.4.2. Phương pháp đọc hiểu. 10

3.5. Đọc hiểu từ góc độ Văn hóa học. 10

3.5.1. Giới thuyết vấn đề. 10

3.5.2. Phương pháp đọc hiểu. 11

3.6. Đọc hiểu từ góc độ Thi pháp học. 11

3.6.1. Giới thuyết vấn đề. 11

3.6.2. Phương pháp đọc hiểu. 11

3.7. Đọc hiểu từ góc độ phê bình sinh thái 11

3.7. 1. Giới thuyết vấn đề. 11

3.7.2. Phương pháp đọc hiểu: 11

CHƯƠNG II. THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH   13

  1. Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình. 13

1.1. Vai trò của người giáo viên trong việc định hướng đọc hiểu tác phẩm.. 13

1.2. Giáo án hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình. 13

Đọc hiểu:  KHÂM THIÊN.. 13

Đọc hiểu: TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG.. 20

Đọc hiểu: LỤA (trích). 28

  1. Học sinh thực hành đọc hiểu tác phẩm văn học. 37

Đọc hiểu: THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ.. 37

Đọc hiểu: TRANH LÕA THỂ.. 40

Đọc hiểu: HÔN.. 43

Đọc hiểu: NGƯỜI DỆT TẦM GAI 47

Đọc hiểu: KÉP TƯ BỀN.. 51

Đọc hiểu: CHIẾC ÁO DÀI 54

Đọc hiểu: BAY TRÊN TỔ CHIM CÚC CU (trích). 59

Đọc hiểu: CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ (trích). 65

CHƯƠNG III.  VẬN DỤNG KIẾN THỨC TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH TRONG LÀM VĂN   70

  1. Phạm vi ứng dụng kiến thức đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình trong làm văn 70
  2. Hướng dẫn vận dụng trong các đề nghị luận văn học. 70

2.1. Vận dụng toàn phần kiến thức tác phẩm ngoài chương trình trong đề nghị luận văn học (kiến thức tác phẩm ngoài chương trình chiếm 90-100%). 70

Đề 1. Có ý kiến cho rằng: “Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim”. 70

Đề 2.  “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng đó có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng đó có những hình thức riêng” (M.Gorki)  85

2.2. Vận dụng một phần kiến thức tác phẩm ngoài chương trình vào đề nghị luận văn học (kiến thức tác phẩm ngoài chương trình chiếm khoảng 40 – 50% ). 90

Đề 1. Bàn về nghề văn, nếu nhà văn Pautốpxki cho rằng: “Thiên chức của nhà văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp” thì Gô – gôn khẳng định “Có những thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của cuộc sống hiện tại thì ta sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái Đẹp”. 90

Đề 2. Văn học không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình. 97

2.3. Vận dụng kiến thức tác phẩm ngoài chương trình theo kiểu điểm xuyết, bổ sung, liên hệ, mở rộng (kiến thức tác phẩm ngoài chương trình chiếm khoảng 10-20%). 103

Đề 1. Trong Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định: 103

PHẦN KẾT LUẬN.. 124

  1. Một số kết luận chung rút ra từ chuyên đề. 124
  2. Ý kiến đề xuất 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 126

PHỤ LỤC.. 127

Phụ lục 1: KHÂM THIÊN.. 127

Phụ lục 2: TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG.. 130

Phụ lục 3: LỤA (Trích). 137

Phụ lục 4: THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ.. 148

Phụ lục 5: TRANH LÕA THỂ.. 148

Phụ lục 6: HÔN.. 149

Phụ lục 7: NGƯỜI DỆT TẦM GAI 150

Phụ lục 8: KÉP TƯ BỀN.. 151

Phụ lục 9: CHIẾC ÁO DÀI 155

Phụ lục 10:BAY TRÊN TỔ CHIM CÚC CU (Trích). 158

Phụ lục 11: CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ (Trích). 169

 

PHẦN MỞ ĐẦU

 

  1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đọc hiểu không phải là phương pháp riêng cho việc dạy học văn mà là phương pháp chung của nhiều môn học khác. Song, trong quá trình khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học, đọc hiểu vẫn có những đặc trưng riêng. Đại thi hào Gớt (Đức) cho rằng: “Nghệ thuật đòi hỏi những ý nghĩ và tình cảm đặc biệt như là sự dấn thân, nếu không, một tác phẩm đối với chúng ta hoàn toàn chỉ là đối tượng quan sát. Nhìn thấy đó mà vô hồn sẽ không tiếp cận được và không thể hiểu sâu sắc những gì mà nhà nghệ sĩ suy nghĩ về cuộc sống” (Dẫn theo Nguyễn Thanh Hùng, Hiểu văn – Dạy văn). Đó chính là điểm khác nhau cơ bản, đặc thù giữa đọc văn bản văn học và đọc các loại văn bản khác. Việc đọc hiểu tác phẩm văn học không chỉ đơn giản là vấn đề giải mã ngôn ngữ mà còn là đọc “toàn tâm, toàn ý, toàn hồn”, đọc bằng tất cả con người bên trong mình. Xét về góc độ ấy, vấn đề đọc hiểu tác phẩm văn học đối với học sinh bao giờ cũng mới mẻ và đầy tính khám phá. Bởi đọc văn là cuộc tìm kiếm không mệt mỏi để tìm kiếm ý nghĩa nhân sinh qua tác phẩm bằng chính tâm hồn người đọc.

Những bài đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình THPT thể hiện rất rõ mối quan hệ hai chiều giữa giáo viên và học sinh. Nhưng một số giờ học đọc hiểu tác phẩm thực chất là quá trình giáo viên đọc hộ, hiểu hộ học sinh. Học sinh là người tiếp nhận thông tin, người đơn thuần ghi nhớ. Đọc tác phẩm trong chương trình thường tuân thủ theo quy tắc định hướng (định hướng bằng cách cảm thụ của giáo viên, bằng những tài liệu có sẵn, theo các mục đích giáo dục cụ thể của bậc học, đặc trưng môn học,…). Vô hình chung, điều này với học sinh chuyên Văn cũng là một sợi dây “trói” những suy nghĩ vào trong một khuôn mà năng lực chủ quan của học sinh ít được phát huy. Vì thế, quá trình đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình phổ thông phần nào đã phát huy được tính chủ quan, không giới hạn của học sinh chuyên Văn trong việc tiếp nhận tác phẩm trên cơ sở được giáo viên cung cấp các bộ công cụ đọc hiểu.

Thực tế hiện nay, lí thuyết đọc hiểu không chỉ được ứng dụng vào giờ Đọc văn trên lớp mà còn được đưa thành một phần riêng trong cấu trúc đề thi THPT Quốc gia. Điều đó càng chứng tỏ vị thế, ý nghĩa của dạy học đọc hiểu. Việc đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình không chỉ giúp cho các em học sinh chuyên Văn có được những bài học chuyên sâu mà còn bổ sung thêm kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng làm văn. Thêm nữa, trong nhiều năm gần đây, đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn từ cấp Tỉnh, Khu vực đến cấp Quốc gia thường yêu cầu học sinh thông qua những trải nghiệm văn học để bàn luận cho vấn đề lý luận. Nếu học sinh chuyên Văn, nhất là học sinh giỏi chỉ nắm chắc những tác phẩm trong chương trình thì chưa đủ để bài viết có chiều sâu, hấp dẫn.

Với những lý do ấy, thiết nghĩ chuyên đề Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình cho học sinh chuyên Văn là rất phù hợp và thiết thực. Không chỉ giúp cho học sinh có thêm bộ công cụ đọc hiểu, những kiến thức về văn bản và khả năng tiếp nhận tác phẩm phong phú mà còn giúp cho người giáo viên, nhất là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp chuyên Văn mở rộng thêm nhiều kiến thức bổ ích, lý thú. Thông qua những giờ đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình, học sinh sẽ ngày càng tích cực, chủ động, độc lập trong tư duy, có phương pháp, kĩ năng đọc hiểu, có hứng thú tiếp nhận tác phẩm.

  1. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng tới các mục tiêu sau:

Kế thừa và làm rõ hơn lí thuyết đọc hiểu. Đề xuất tiêu chí chọn tác phẩm ngoài chương trình phù hợp với học sinh chuyên Văn.

Cung cấp một số phương pháp (công cụ) đọc hiểu, khám phá tác phẩm và một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình cho học sinh.

Chúng tôi hướng đến mục đích chính của chuyên đề là hoạt động hướng dẫn học sinh tự đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình và vận dụng kiến thức đó trong làm văn.

 

 

PHẦN NỘI DUNG

 

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT

 

  1. Những vấn đề về đọc hiểu tác phẩm văn học

1.1. Khái niệm đọc hiểu

Thuật ngữ “đọc hiểu” (reading comprehension) được đưa vào nhà trường hơn một thập kỉ. Đến nay, thuật ngữ ấy đã khá quen thuộc với học sinh THPT. Có nhiều quan niệm khác nhau về đọc hiểu tác phẩm.

Đọc gắn liền với hiểu, hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Theo M.Bakhtin, hiểu trong đọc hiểu bao gồm nhiều hành động gắn bó với nhau: Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ…); Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn ngữ, hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh… Hiểu khác nhận thức và giải thích ở chỗ hiểu không một chiều mà mang tính đối thoại. Hiểu còn là sự sáng tạo, là sự bừng sáng trong khoảnh khắc [5;132]. Như thế, đọc luôn gắn liền với nhiều mức độ hiểuhiểu không bao giờ đơn giản chỉ là hiểu nghĩa.

Theo GS. Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc – hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn”; “Đọc hiểu là mức độ cao nhất  của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc” [7;34-35].

  1. Trần Đình Sử đã chỉ ra một số nội dung then chốt của việc đọc: “đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản”, phải dựa vào tính tích cực của chủ thể và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản; “đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản”; “đọc là quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản”; “đọc là quá trình tạo ra các năng lực người”. Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của mình [12;10].

PGS. Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định đọc hiểu “là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động cho mình” [Dẫn theo 10;26].

Như vậy, mỗi quan niệm trên đây, dù đứng ở góc độ nào cũng thấy đọc được coi là một quá trình tổng hợp, đòi hỏi sử dụng nhiều kĩ năng; hiểu là mục đích của đọc. Để đọc hiểu, người đọc phải tích cực, chủ động khám phá văn bản.

1.2. Các cấp độ đọc hiểu

Trong chương trình THPT, học sinh được hướng dẫn làm việc với văn bản trên ba phương diện, cũng là ba cấp độ đọc hiểu khác nhau: đọc trên dòng chữ, đọc giữa các dòng chữ, đọc ngoài dòng chữ.

Đọc trên dòng: Yêu cầu học sinh phải thông hiểu ý nghĩa của văn bản trên cấp độ ngôn từ, hiểu được nghĩa của từ, nghĩa của câu. Đây là cấp độ đầu tiên của quá trình đọc hiểu, cũng là mục tiêu bắt buộc mà học sinh phải vượt qua.

 Đọc giữa các dòng: Là cấp độ thứ hai sau đọc trên dòng. Cấp độ này đòi hỏi học sinh hiểu được ý nghĩa hình tượng của văn bản. Đây là nghĩa giữa các câu, nghĩa ngoài lời.

Đọc ngoài dòng chữ: Là cấp độ đọc cao nhất. Cấp độ này đòi hỏi đọc được ý nghĩa của văn bản, hiểu ý nghĩa đó gắn với ngữ cảnh của văn bản.

Với ý nghĩa là quá trình mang tính chủ động cá nhân, ba cấp độ này đòi hỏi người đọc phải trải qua ba quá trình từ đọc đến suy ngẫm và cuối cùng là liên tưởng khái quát, tương ứng với ba cấp độ của cấu trúc văn bản: ngôn từ, hình tượng, ý nghĩa. Điều quan trọng đối với người giáo viên là phải thực sự thông hiểu, nắm được những điểm nhấn của văn bản để điều chỉnh mức độ, phân phối dung lượng, hướng học sinh vào những chỗ có vấn đề để giúp các em có được hứng thú trong quá trình hiểu bài.

  1. Người đọc là học sinh chuyên Văn

2.1. Các loại hình người đọc

Ðứng về phía người tiếp nhận, người ta chia người đọc ra bốn loại: người đọc tiêu thụ; người đọc điểm sách; người đọc chuyên nghiệp – nhà phê bình; người sáng tác – nhà văn, nhà thơ.

Ðứng ở góc độ sáng tác, người ta chia người đọc ra làm ba loại: người đọc thực tế; người đọc giả thiết; người đọc hữu hình – người đọc tồn tại bên trong tác phẩm như một nhân vật luôn đối diện và đối thoại với nhà văn, nhưng không phải nhân vật mà là hiện thân của người đọc bên ngoài tác phẩm.

Ðứng ở góc độ thời gian, người ta chia người đọc ra làm ba loại: người đọc hiện tại; người đọc quá khứ; người đọc tương lai.

Có nhiều cách phân chia loại hình bạn đọc khác nhau, ở đây chúng tôi giới thiệu lại một số loại hình bạn đọc trên cơ sở kế thừa kết quả có sẵn của các nhà nghiên cứu phương pháp.

2.2. Phân biệt người đọc là học sinh chuyên Văn với người đọc xã hội

Cả hai kiểu người đọc này giống nhau ở chỗ, cả hai cùng là chủ thể nhận thức và cùng tham gia vào quá trình lĩnh hội văn học. Họ phải có những hiểu biết nhất định về xã hội, con người và văn học nghệ thuật.

Tuy nhiên, người đọc tác phẩm văn học là học sinh vẫn có những điểm khác so với người đọc xã hội nói chung:

Người đọc xã hội có thể đọc mọi tác phẩm mà họ muốn đọc theo thị hiếu, nhu cầu, hứng thú của họ. Có khi đọc xong một tác phẩm họ chỉ cần biết tác phẩm họ viết gì, hay hay dở, có đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của họ hay không. Họ có thể đọc hết hoặc không hết tác phẩm, có thể không cần biết đến tác giả, hoàn cảnh sáng tác hay hiện thực lịch sử được phản ánh trong tác phẩm. Tác phẩm văn học nào cũng tác động tới nhận thức, thẩm mĩ của người đọc nhưng mức độ tác động ấy đối với bạn đọc xã hội cũng không giống nhau. Thậm chí, với mỗi người, tác phẩm của tác phẩm văn học có thể là tích cực hoặc tiêu cực hoặc có khi tác động rất ít.

Người đọc là học sinh THPT – Đây là bạn đọc đặc biệt, họ cùng lứa tuổi, cùng những đặc điểm tâm lý, cùng một trình độ văn hóa. Học sinh được cung cấp những phương pháp, kĩ năng đọc hiểu theo định hướng ở nhà trường phổ thông. Đối với học sinh, đọc tác phẩm văn học chủ yếu là để phục vụ cho việc học, đọc có mục đích, có định hướng và có yêu cầu cụ thể. Học sinh là trung tâm, là chủ thể tiếp nhận. Thực tế, học sinh luôn là một thực thể trực tiếp chi phối việc phân tích tác phẩm của giáo viên, xu hướng lên lớp của người thầy. Những tác phẩm mà học sinh được đọc hiểu là những tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật được lựa chọn theo tiêu chí rõ ràng. Đối với học sinh, việc đọc và học tác phẩm có mối quan hệ gắn bó với nhau. Qua đọc tác phẩm, học sinh nâng cao hiểu biết về văn học, xã hội, con người, thời đại; rèn các kĩ năng đọc, nói, viết; phát triển nhân cách, năng lực tư duy, năng lực thẩm mỹ. Như vậy, học sinh là độc giả đặc biệt, cũng bởi quá trình tiếp nhận của học sinh chịu sự chi phối của các quy luật tiếp nhận chung và quy luật đặc thù.

Người đọc là học sinh chuyên Văn ở trường THPT chuyên có thêm những tố chất đặc biệt hơn ở chỗ học sinh chuyên Văn thường có năng lực đặc biệt về văn học và sự hứng thú với tác phẩm ở mức độ cao hơn so với học sinh các môn chuyên Khoa học tự nhiên. Khi đến với các tác phẩm ngoài chương trình, học sinh chuyên Văn vừa đóng vai bạn đọc học sinh vừa đóng vai bạn đọc xã hội.

2.3. Mối quan hệ giữa bạn đọc – học sinh chuyên Văn và tác phẩm

Tác giả J.Paul.Sartre cho rằng: “Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động.  Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc. Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục. Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng” [8;43-53]. Do vậy, mối quan hệ giữa bạn đọc – học sinh chuyên Văn và tác phẩm văn học là mối quan hệ giữa sáng tạo và tiếp nhận. Quan hệ này được thể hiện cụ thể ở các khía cạnh sau:

Mối quan hệ giữa bạn đọc là học sinh và tác phẩm văn học là mối quan hệ liên chủ thể giữa nhà văn và bạn đọc – học sinh. Học sinh là bạn đọc thực tiễn. Ở đây có ba mức độ gặp gỡ: sự đồng cảm – học sinh tiếp nhận những tác động thẩm mỹ mà tác giả gửi vào tác phẩm; sự sáng tạo chuẩn mực là học sinh có thể đưa vào tác phẩm sự sáng tạo một thực tế mới, bổ sung, mở rộng nội dung và ý nghĩa của văn bản, làm cho tác phẩm có thêm một cuộc sống thứ hai; phá vỡ chuẩn mực – sự tiếp nhận của học sinh có thể đi chệch khỏi ý định tác động của tác giả, làm thay đổi mọi giá trị của văn bản, đem lại một cách hiểu hoàn toàn mới.

Mối quan hệ giữa học sinh với tác phẩm văn học là mối quan hệ giao tiếp nhằm thực hiện cuộc đối thoại có chủ định giữa hai chủ thể: nhà văn và học sinh. Tác phẩm văn học là một thông điệp thẩm mỹ, đòi hỏi bạn đọc – học sinh phải có khả năng giải mã được những thông điệp thẩm mỹ ấy. Việc tiếp nhận văn học của học sinh mỗi thế hệ khác nhau, họ luôn nảy sinh những vấn đề mới, những khát vọng, nhu cầu và thái độ riêng đối với văn học. Học sinh tham gia tích cực vào quá trình giao tiếp ngôn ngữ.

Mối quan hệ giữa tác phẩm và học sinh thực chất còn là mối quan hệ tác động của tác phẩm đến sự tiếp nhận của học sinh. Học sinh khi đến với tác phẩm văn học là đang thực hiện một cuộc giao tiếp, giao tiếp với thế giới nhân vật, với nhà văn và giao tiếp với chính mình. Học sinh không chỉ cùng đồng hành với nhà văn kiến tạo tác phẩm (khả năng đồng sáng tạo) mà còn tự kiến tạo nên con người mình.

  1. Một số phương pháp đọc hiểu tác phẩm văn học

Umberto Eco cho rằng: “Tất cả mọi tác phẩm, dù được sáng tác theo thi pháp tất yếu nào cũng mở theo các kiểu đọc, mỗi kiểu đọc mang lại cho đời sống tác phẩm một đời sống mới từ một triển vọng nào đó theo thị hiếu cá nhân người đọc” (Nguyễn Viết Chữ). Có nhiều phương pháp khác nhau để đọc hiểu tác phẩm. Chẳng hạn đọc hiểu tác phẩm theo: đặc trưng thể loại, ngôn ngữ học, mĩ học, phân tâm học, văn hóa, thi pháp học, phê bình sinh thái,… Đọc hiểu tác phẩm không thể không quan tâm đến đặc điểm thể loại của tác phẩm. Bởi thể loại chính là một cơ sở tạo nên tính thống nhất chỉnh thể của tác phẩm, quy định cách tổ chức, liên kết các yếu tố nội dung và hình thức. Vì thế, tri thức về thể loại văn học, kĩ năng đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại là những yếu tố rất quan trọng cần phải đạt được trong hoạt động dạy và học văn ở trường THPT. Với chuyên đề này, chúng tôi tập trung giới thiệu kĩ hơn phương pháp đọc hiểu theo đặc trưng thể loại, còn các phương pháp đọc hiểu theo những lý thuyết khác chúng tôi giới thiệu để giúp học sinh đa dạng công cụ đọc hiểu, có thể ứng dụng khi cần thiết.

3.1. Đọc hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại

3.1.1. Thể loại thơ trữ tình

* Đọc hiểu ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, nhạc điệu

– Trước hết, cần đặc biệt coi trọng thao tác đọc văn bản để cảm nhận giọng điệu, cảm hứng, nội dung bao trùm.

Song song với việc đọc hiểu văn bản là giải mã các từ ngữ mới lạ, độc đáo, những cách diễn đạt khác thường, những yếu tố ngôn ngữ được lặp đi lặp lại, các biện pháp tu từ… để nắm bắt được mạch ngầm văn bản.

* Đọc hiểu mạch vận động của hình tượng thơ, cấu tứ thơ

Hình tượng trong thơ luôn vận động. Cấu tứ là một phương diện nghệ thuật đặc trưng và quan trọng của thơ trữ tình và người khám phá không thể bỏ qua. Một bài thơ hay sẽ khép tứ trọn vẹn, hợp lí và toát lên những ý nghĩa sâu sắc.

* Đọc hiểu cảm xúc thơ, tư tưởng thơ

Cảm xúc là một đặc trưng quan trọng của thơ trữ tình. Cảm xúc phải được ý thức, khái quát, truyền tải tư tưởng của người nghệ sĩ. Tư tưởng thơ nâng cao giá trị bài thơ, góp phần tạo nên sức sống lâu bền.

3.1.2. Thể loại truyện ngắn

* Đọc hiểu trọn vẹn văn bản

Trước tiên cần đọc trọn vẹn truyện ngắn, không phải một lúc có thể đọc truyện đã hiểu được ngay. Nhiều truyện tuy ngắn nhưng phải đọc thật chậm để hiểu rõ ý nghĩa nội dung, nhưng trong nhiều trường hợp phải đọc lướt thật nhanh.

* Đọc hiểu cốt truyện

Để nắm được nội dung thì sau khi đọc trọn vẹn tác phẩm, phải tái hiện được cốt truyện. Cốt truyện phân loại theo những cách khác nhau: cốt truyện sự kiện – cốt truyện tâm lí;  đan cài – song song – truyện lồng trong truyện… Việc đọc hiểu không ngừng lại ở việc nhận dạng cốt truyện thuộc loại nào mà phải nhận ra sự sáng tạo độc đáo, hấp dẫn của cốt truyện trong phản ánh đời sống và thể hiện nhân vật.

* Đọc hiểu kết cấu, bố cục

“Bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định. Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật. Kết cấu đảm nhiệm các chức năng rất đa dạng” (Taffy E. Raphael – Efrieda H. Hiebert). Nếu bố cục là sự sắp xếp các phần, các chương, các đoạn, là mối quan hệ bề mặt của văn bản nghệ thuật thì kết cấu là tổ chức bên trong tác phẩm, bao gồm hệ thống nhân vật, tổ chức không gian, thời gian, điểm nhìn trần thuật…

* Đọc hiểu nhân vật

Thực chất của việc đọc hiểu nhân vật chính là phân tích nhân vật. Phân tích nhân vật là khâu quan trọng trong đọc hiểu truyện ngắn. Nhân vật là phương tiện để nhà văn gửi gắm mọi suy nghĩ, bày tỏ mọi quan niệm về đời sống. Tài năng của nhà văn cũng chủ yếu thể hiện qua việc xây dựng thế giới nhân vật. Mục tiêu của phân tích nhân vật là chỉ ra được đặc điểm, tính cách, số phận. Những đặc điểm này phải được nhà văn tái hiện sinh động qua các phương diện như: ngoại hình, lai lịch, hành động, ngôn ngữ…

 * Đọc hiểu nghệ thuật trần thuật

Nghệ thuật trần thuật là phương diện không thể thiếu trong nghệ thuật tự sự. Nói đến trần thuật, người ta thường chú ý ba phương diện quan trọng: ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu.

3.1.3. Thể loại tùy bút

* Đọc hiểu trọn vẹn tác phẩm

* Đọc hiểu yếu tố “truyện” trong tùy bút

Trong tùy bút cũng có nhiều yếu tố truyện. Vì vậy, khi đọc hiểu thể loại này học sinh tìm hiểu yếu tố truyện trong tác phẩm.

* Đọc hiểu yếu tố “kí” trong tùy bút

Nói đến yếu tố “kí” là nhắc đến tính chất thời sự, thông tin chính xác, tỉ mỉ. Nó là đặc điểm của thể tài hồi kí, phóng sự, kí sự và tùy bút.

* Phát hiện và đánh giá được óc quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, năng lực sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

Trong tùy bút, chất trữ tình đậm đà kết hợp với một trí tuệ sắc sảo, liên tưởng phong phú bất ngờ là một đặc điểm nổi bật. Liên tưởng, so sánh, tương phản, đối lập… là những thủ pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong tùy bút. Nhà văn xuất phát từ những sự vật, hiện tượng có thực trong đời sống, rồi phát huy năng lực tưởng tượng để mở rộng biên giới cảm xúc, suy tưởng để gửi gắm vào trang viết một thông điệp có ý nghĩa nhân sinh nào đó.

* Phát hiện đặc điểm “cái tôi” tác giả trong tùy bút

Hình tượng tác giả là cái được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt. Nhà thơ Gớt nhận xét: Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt”  (Nguyễn Thị Quỳnh Trang). Do đặc trưng thể loại, tùy bút khác với thể văn khác ở tính chất tự do, nhà văn tự dẫn dắt ngòi bút theo cảm xúc và trí tưởng tượng của mình. Ở thể văn này, cái tôi tác giả bộc lộ rõ rệt nhất. Sức hấp dẫn của tùy bút phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi ấy. Việc hướng dẫn học sinh phát hiện ra cái tôi bản ngã của nhà văn trong quá trình đọc hiểu tác phẩm tùy bút là vô cùng quan trọng.

3.1.4. Thể loại kịch

* Đọc trọn vẹn văn bản kịch

Trong nhà trường phổ thông, kịch được tiếp nhận từ kênh văn học là chủ yếu chứ không phải từ kênh nghệ thuật sân khấu. Xét từ phương diện này đọc hiểu văn bản kịch có nhiều điểm tương đồng với việc đọc hiểu các văn bản văn học nói chung.

* Đọc – hiểu chi tiết

Đọc hiểu từ phần Tiểu dẫn của bài học; đọc hiểu để nắm bắt được hoàn cảnh sáng tác của vở kịch, mục đích, tóm tắt nội dung vở kịch để có một cái nhìn khái quát về chủ đề tư tưởng bao trùm toàn bộ tác phẩm; đọc hiểu bảng phân vai nhân; nắm được nội dung cơ bản của vở kịch và tuyến nhân vật mới tạo được cơ sở vững chắc để đi sâu vào đọc  hiểu đoạn trích.

* Nhận diện bố cục, hành động, tóm tắt cốt truyện của văn bản kịch

Quan hệ giữa bố cục kịch và cốt truyện kịch là quan hệ mang tính hệ thống giữa hình thức và nội dung. Bố cục kịch với tư cách là hình thức, đóng vai trò quyết định trong việc trình bày nội dung của cốt truyện kịch một cách đầy đủ và rõ ràng nhất. Cốt truyện trong kịch bản văn học là hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định của tác giả. Nhờ cốt truyện, nhà văn thể hiện sự hình thành, đặc điểm của mỗi hành động, mâu thuẫn và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật.

* Nhận diện, đọc hiểu xung đột kịch

“Xung đột là cơ sở của kịch” (Phan Trọng Luận). Có thể có rất nhiều loại xung đột khác nhau. Để đọc hiểu kịch bản văn học, nhất thiết phải nhận diện các mâu thuẫn đã phát triển thành xung đột ra sao và tập trung phân tích cách giải quyết của tác giả.

3.1.5. Thể loại tiểu thuyết

* Đọc hiểu cốt truyện, chi tiết

Cốt truyện là hệ thống sự kiện xảy ra trong đời sống của nhân vật (có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật).

* Sự miêu tả hoàn cảnh

Hoàn cảnh là toàn bộ các quan hệ xã hội, điều kiện sống tạo thành nền tảng khách quan của đời sống nhân vật. Tác dụng biểu hiện địa vị, tâm tình nhân vật và gây không khí hứng thú cho người đọc.

* Đọc hiểu hình tượng nhân vật

Một tác phẩm thường có nhiều nhân vật, trong đó phải có nhân vật chính. Nhân vật thường biểu hiện qua các phương diện sau: Ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố và ngôn ngữ của nhân vật; Mối quan hệ của các nhân vật và giữa các nhân vật với hoàn cảnh xung quanh (các quan hệ này bộc lộ địa vị, tính cách và số phận của nhân vật);Ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm (nhà văn sáng tạo nhân vật để gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời)

* Đọc hiểu kết cấu

Tiểu thuyết là loại tự sự cỡ lớn có nhiều nhân vật, nhiều tuyến cốt truyện; Kết cấu sao cho tính cách, số phận và quan hệ của các nhân vật được thể hiện trong quá trình và bối cảnh rộng lớn.

* Đọc hiểu nghệ thuật trần thuật

Tìm hiểu điểm nhìn trần thuật, lời kể cho biết ai kể, kể theo điểm nhìn của ai; cách dùng từ ngữ trong xưng hô, miêu tả thể hiện điểm nhìn của người kể trong việc hướng dẫn người đọc cảm thụ tác phẩm. Ngôn ngữ trong truyện thường có tính mới mẻ, sáng tạo, có cá tính của tác giả.

3.2. Đọc hiểu từ góc độ Ngôn ngữ học

3.2.1. Giới thuyết vấn đề

Ngôn ngữ học có quan hệ mật thiết với văn học. Chính vì thế, trong lí thuyết đọc hiểu hiện đại, phương pháp đọc hiểu văn bản văn học từ các yếu tố ngôn ngữ có thể coi là chiếc chìa khóa cơ bản để mở cánh cửa đi vào khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm, tìm hiểu tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi vào trong đó. Văn học hướng vào ngôn ngữ và gắn bó với bản chất tín hiệu học của chính bản thân ngôn ngữ.

3.2.2. Phương pháp đọc hiểu

+ Đọc hiểu âm thanh, nhạc điệu: nẵm rõ giọng văn, giọng thơ trong tác phẩm nghệ thuật. Mỗi tác phẩm có một giọng điệu khác nhau. Việc đọc hiểu, khai thác giọng điệu của tác phẩm chính là bước đầu tiên để cảm thụ tình cảm, tư tưởng mà tác giả gửi gắm.

+ Đọc hiểu kết cấu, bố cục: nắm được cách triển khai tứ thơ, sự vận động của mạch cảm xúc trong tác phẩm, trên cơ sở đó hiểu được tư duy và ý đồ của người sáng tác.

+ Đọc hiểu từ ngữ, lời thoại: Đọc hiểu từ ngữ là xem xét vốn ngôn ngữ bề mặt của tác phẩm (từ láy, động từ, tính từ, các nghệ thuật kết hợp từ, các biện pháp tu từ) để thấy được giá trị gợi hình, gợi cảm của chúng trong việc biểu đạt ý nghĩa văn bản.

+ Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật: Quan hệ giữa tác phẩm và các tín hiệu ngôn ngữ như từ, câu, chi tiết, nhân vật là quan hệ chỉnh thể – bộ phận. Để hiểu tác phẩm, ta phải đi từ chỉnh thể đến bộ phận và ngược lại.

3.3. Đọc hiểu từ góc độ Mĩ học

3.3.1. Giới thuyết vấn đề

Mĩ học nghiên cứu ý thức thẩm mĩ của con người, các phạm trù mĩ học và nghiên cứu nghệ thuật như là một lĩnh vực thẩm mĩ – sáng tạo ra những giá trị theo quy luật của cái đẹp. Cái đẹp là phạm trù trung tâm của mĩ học, “là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật” (Bielinski). Lí thuyết mĩ học gắn bó mật thiết với văn học, bởi sáng tạo nghệ thuật là hoạt động thể hiện đầy đủ nhất, tập trung nhất đời sống thẩm mĩ của con người.

3.3.2 Phương pháp đọc hiểu

+ Đọc hiểu cái Đẹp: Đọc hiểu từ phương diện cái Đẹp là cảm thụ cái đẹp trong tự nhiên, cái đẹp trong đời sống con người, cái đẹp từ các phương tiện nghệ thuật được bộc lộ trong tác phẩm, thể hiện tư tưởng và phong cách của người sáng tạo.

+ Đọc hiểu cái Bi: Đọc hiểu cái Bi là khai thác những xung đột tất yếu có ý nghĩa xã hội mang tính quy luật trong sự phát triển lịch từ đó khám phá những cảm xúc nhân văn, lành mạnh được khơi dậy từ trong bi kịch, hướng con người đến cái thiện, cái Đẹp.

+ Đọc hiểu cái Cao cả: Cái Cao cả là những hiện tượng, tính cách, tư tưởng vượt ra khỏi giới hạn bình thường. Đọc hiểu cái Cao cả là khai thác tính chất thanh cao, hùng vĩ, đồ sộ, phi thường của sự vật, hiện tượng, gọi dậy cảm xúc choáng ngợp, chiêm ngưỡng, thậm chí là sợ hãi trong con người, đánh thức khát vọng vươn tới cái vĩ đại của cuộc sống, hùng vĩ hóa cá nhân.

+ Đọc hiểu cái Hài: Đọc hiểu cái Hài là công việc nghiên cứu các mâu thuẫn gây cười trong đời sống như xung đột cũ – mới, hình thức – nội dung… khai thác giá trị nhận thức từ trong các mâu thuẫn để khẳng định cái đẹp.

3.4. Đọc hiểu từ góc độ Phân tâm học

3.4.1 Giới thuyết vấn đề

Phân tâm học là học thuyết do bác sĩ tâm lí Sigmund Freud khởi xướng vào cuối thế kỉ XIX, dựa trên sự đề cao tuyệt đối cái vô thức, buộc người ta phải nhìn nhận “cái tôi không phải là chủ nhân trong chính ngôi nhà của nó”, chứng minh sức mạnh của vô thức, của những xung năng khoái cảm như tính dục. Phân tâm học liên kết chặt chẽ với văn học.

3.4.2. Phương pháp đọc hiểu

Đọc hiểu tác phẩm dưới góc độ phân tâm học chính là việc người đọc “giải mã giấc mơ”, đi sâu phám phá sự tổ chức ngôn ngữ mang yếu tố vô thức của tác phẩm (các động từ, tính từ, các từ ngữ được lặp lại…); nhận diện những yếu tố tâm lí, tự sự, trữ tình cho phép cái “tôi” lộ diện; so sánh, đối chiếu các chi tiết, hình ảnh lặp đi lặp lại đến mức ám ảnh có ý nghĩa biểu tượng để kết luận ra vẻ đẹp của sáng tác. Công việc này có hai quá trình:

+ Đọc hiểu cấu trúc bề mặt: tìm hiểu sự vận động ngôn ngữ, diễn biến sự việc, chi tiết, sự phát triển của hình tượng trên bề mặt; nối kết các sự việc, tình tiết vào một mối quan hệ, xúc tiến tạo dựng giá trị để xác định nền tảng của vô thức trong tác phẩm.

+ Đọc hiểu cấu trúc chiều sâu: là quá trình khai thác các bản năng gốc theo quan điểm của Freud – bản năng tính dụcbản năng xâm hại.

3.5. Đọc hiểu từ góc độ Văn hóa học

3.5.1. Giới thuyết vấn đề

            Văn học là một loại hình nghệ thuật đặc thù. Đọc hiểu tác phẩm từ góc độ văn hóa học là đặt văn học vào bối cảnh rộng lớn của văn hóa – xã hội nơi tác phẩm ra đời, “xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mĩ, quan niệm về con người, từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định.

3.5.2. Phương pháp đọc hiểu

+ Thâm nhập không khí lịch sử – văn hóa của tác phẩm: thấy được ngữ cảnh văn hóa mà tác phẩm nảy sinh, trên cơ sở đó khai thác được mối liên hệ giữa tác phẩm – văn hóa – xã hội – lịch sử, vận dụng được các yếu tố tư tưởng trong các giai đoạn lịch sử cụ thể như giai đoạn trung đại từ thế kỉ X – XIV sẽ khác với giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, giai đoạn 1930 – 1945 sẽ khác với giai đoạn 1945 – 1975 và sau năm 1975..

+ Xác định các yếu tố văn hóa của tác phẩm, bộc lộ ở thể loại, cấu trúc hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ. Các yếu tố trong tác phẩm đều chịu ảnh hưởng của một thời đại, một cơ tầng văn hóa nhất định, một vùng miền cụ thể, mang trong mình đặc trưng xã hội – văn hóa của ngữ cảnh đó.

3.6. Đọc hiểu từ góc độ Thi pháp học

3.6.1. Giới thuyết vấn đề

Đây là “lĩnh vực nghiên cứu về đặc trưng, tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn bản… nghiên cứu quy luật nội tại của tác phẩm, cấu tạo và phong cách..” (Trần Đình Sử).

3.6.2. Phương pháp đọc hiểu

+ Khai thác nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm.

+ Khai thác không gian – thời gian trong tác phẩm. Không gian – thời gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Việc chiếm lĩnh không – thời gian trong tác phẩm phản ánh mối quan hệ giữa con người với thế giới, từ đó xác lập được đặc điểm cơ bản của thế giới nghệ thuật trong từng tác phẩm cụ thể.

+ Khai thác phương thức biểu hiện của tác phẩm: ngôn từ, kết cấu, hệ thống hình ảnh, giọng điệu.

3.7. Đọc hiểu từ góc độ phê bình sinh thái

3.7. 1. Giới thuyết vấn đề

Trong tình hình diễn biến phức tạp của vấn đề môi trường trên toàn cầu, từ thập niên 70 của thế kỉ XX, phê bình sinh thái đã ra đời trong vị thế là một khuynh hướng nghiên cứu liên ngành, đa văn hóa. Phê bình sinh thái nghiên cứu quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, truy tìm căn nguyên văn hóa – tư tưởng của nguy cơ sinh thái và là sự hồi đáp của văn chương với môi trường sinh thái.

3.7.2. Phương pháp đọc hiểu:

+ Xác định tư tưởng sinh thái trong nội dung tác phẩm, bộc lộ ở đề tài, cảm hứng chủ đạo, nhân vật, không gian – thời gian nghệ thuật. Đây là các yếu tố thể hiện rõ nhất tư tưởng sinh thái tập trung ở mỗi tác phẩm: phê phán sự chiếm hữu của nhân loại với thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên, lối sống coi môi trường tự nhiên là không gian đáng sống,…

+ Xác định tư tưởng sinh thái trong cấu trúc nghệ thuật, ở điểm nhìn, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật, giọng điệu. Việc xác lập này đòi hỏi sự quan tâm đến cấu trúc trần thuật, lối viết và sự miêu tả thế giới trong tác phẩm, bộc lộ ở việc thiên về tả chân, sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, cấu trúc đòn bẩy…

Đọc hiểu văn học từ góc độ phê bình sinh thái là hướng tiếp cận mới, hóa giải khuynh hướng kinh viện, học thuật, thúc đẩy văn học chuyển dịch ra xã hội, nhân văn, mang lại một động lực phát triển mới và bổ sung cho những khoảng trống trong phê bình văn học.

 

CHƯƠNG II. THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

 NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH

 

  1. Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình

1.1. Vai trò của người giáo viên trong việc định hướng đọc hiểu tác phẩm

Giáo viên là người bắc cầu nối giữa tác phẩm văn học với học sinh, “người tạo ra sự hòa đồng giữa hai quá trình tác động của văn bản và quá trình tiếp nhận những tác động thẩm mỹ đó ở học sinh” (Nguyễn Thị Thanh Hương). Khi giáo viên và học sinh cùng đọc hiểu tác phẩm văn học, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu theo một phương pháp tiếp cận cụ thể, được định hướng để giúp học sinh từng bước qua các hoạt động, hiểu được hệ thống giá trị có trong văn bản. Sự tiếp nhận của giáo viên là một hoạt động kép: vừa tiếp nhận cho mình, vừa phải bằng mọi con đường, cách thức, chuyển tải sự tiếp nhận đó tới học sinh để các em cũng hiểu văn bản.

Người giáo viên có vai trò quyết định trong việc mở rộng, nâng cao tầm đón nhận của học sinh và giúp các em khắc phục những khoảng cách giữa chính học sinh với tác phẩm. Giáo viên là chủ thể tác động và định hướng quá trình đọc hiểu, tiếp nhận những tác động thẩm mỹ của một tác phẩm văn học cho học sinh. Giáo viên là người tổ chức, điều khiển hoạt động đọc hiểu tác phẩm văn học của học sinh. Khi đó, người giáo viên đã tạo điều kiện cho học sinh tự lĩnh hội tác phẩm văn học một cách tích cực, sáng tạo.

1.2. Giáo án hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình

Chúng tôi lựa chọn ba văn bản thuộc các thể loại khác nhau, giai đoạn sáng tác khác nhau, cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Mục đích chung là vừa định hướng đọc hiểu, vừa cung cấp phương pháp đọc hiểu tác phẩm để học sinh không chỉ có kiến thức về chính văn bản đó mà học sinh còn tự thực hành đọc hiểu những tác phẩm khác.

Dưới đây, chúng tôi hướng dẫn học sinh ba tác phẩm: Khâm Thiên (Thơ của Lưu Quang Vũ); Trăng nơi đáy giếng (Truyện ngắn của Trần Thùy Mai); Lụa (Tiểu thuyết của Alessandro Baricco).

 

Đọc hiểu:  KHÂM THIÊN

(Thơ – Văn bản phụ lục 1)

                                           Lưu Quang Vũ

  1. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
  2. Về kiến thức:

– Thấy được những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại trên đất nước Việt Nam, cụ thể tại con phố Khâm Thiên và tiếng nói phản chiến mạnh mẽ của Lưu Quang Vũ.

– Hiểu được ngòi bút trữ tình đầy xót xa của nhà thơ.

  1. Về kĩ năng: Có kĩ năng đọc hiểu thơ trữ tình.
  2. Về thái độ: Hiểu được tính chất phi nhân của chiến tranh, biết cảm thông, thấu hiểu cho những số phận bị tổn thương trong chiến tranh.
  3. Năng lực hướng tới: Năng lực cảm thụ văn học; Năng lực giao tiếp;…
  4. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

– Giáo viên: Giáo án, tư liệu tham khảo, công cụ dạy học…

– Học sinh: Vở ghi, vở soạn.

  1. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
  2. Ổn định tổ chức, kiếm tra sĩ số:
  3. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra phần chuẩn bị vở soạn, tài liệu của HS

III. Bài mới:

Hoạt động của GV và HS Nội dung chính
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm:

* Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:

– GV chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm trình bày một vấn đề về tác giả và tác phẩm.

– GV gợi ý 1 số câu hỏi khái quát:

+ Trình bày những nét chính về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ.

+ Trình bày hoàn cảnh sáng tác, chủ đề của tác phẩm.

* Thực hiện nhiệm vụ học tập:

Vận dụng Kĩ thuật Kipling (5W1H): Trình bày về tiểu sử, sự nghiệp VH của Lưu Quang Vũ.

 

GV: Gợi ý sử dụng sơ đồ Kipling: coi các chữ cái là từ khóa để hỏi và hãy tìm câu trả lời tương ứng

(VD: “When” – Lưu Quang Vũ sinh ra và mất đi khi nào?; “Why” – Tại sao ông được đánh giá là một trong những cây bút  hàng đầu của VHVN hiện đại? )

* Thảo luận:

– HS trình bày sản phẩm.

– GV: gọi HS theo nhóm. Mỗi nhóm cử đại diện trình bày.

– GV: Gọi HS trong lớp thảo luận.

*Đánh giá và chốt ý:

– GV gọi HS bổ sung.

– GV cung cấp thêm 1 số thông tin; hướng dẫn để HS chốt ý.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– GV hướng dẫn HS phương pháp đọc hiểu tác phẩm.

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả:

a. Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, sinh ra và lớn lên ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, sớm bộc lộ thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật từ khi còn rất nhỏ.

+ Năm 1954, ông về sống và đi học ở Hà Nội.

+ Ông từng tham gia quân đội trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

+ Năm 1988, ông qua đời trong một vụ tai nạn.

– Con người: Lưu Quang Vũ là người nghệ sĩ tài hoa, luôn khát vọng sự sống, khát vọng cái đẹp, cái thiện và sự hoàn thiện nhân cách cho con người, cất lên trong những trang văn dạt dào rung cảm.

b. Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm tiêu biểu:

+ Kịch: Sống mãi tuổi 17, Lời thề thứ 9, Hồn Trương Ba da hàng thịt

+ Thơ: Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy ong trong đêm sâu

Đặc điểm sáng tác:

+ Lưu Quang Vũ thành công hơn cả ở thể loại kịch. Sáng tác của ông mang đậm tính hiện thực và tinh thần nhân văn, phản ánh xung đột trong cách sống và quan niệm sống để khẳng định nhân cách của con người, kết hợp nhuần nhuyễn các giá trị truyền thống với những mới mẻ, thời sự, giữa tiếng nói phê phán mạnh mẽ, quyết liệt và cảm hứng trữ tình lãng mạn.

+ Ở mảng thơ, thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bay bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao, in đậm tuổi đời nhà thơ trong những năm tháng chiến tranh, những kí ức hậu chiến đầy biến động của nước nhà.

– Vị trí văn học sử: Lưu Quang Vũ là một trong những nhà thơ, nhà viết kịch tài năng nhất của văn học Việt Nam hiện đại.

2. Tác phẩm:

2.1. Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ được viết năm 1972, trong sự kiện Mỹ ném hàng loạt bom B52 xuống con phố Khâm Thiên – Hà Nội, hòng tàn phá thành phố, biến Hà Nội quay trở về thời kì đồ đá. Đây là sự kiện thương tâm, gây chấn động nhân loại. Chỉ trong 12 ngày đêm, khu phố bị san phẳng, hàng trăm người chết và bị thương, nhiều gia đình tiêu tán.

– Chứng kiến cảnh tượng thương tâm ấy, Lưu Quang Vũ đã sáng tác bài thơ như một lời tưởng niệm tới những người đã khuất, đồng thời lên án tội ác chiến tranh.

2.2. Đề tài, cảm hứng

– Đề tài: chiến tranh trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, với những vấn đề về sự sống và cái chết.

– Cảm hứng: đau thương, bi tráng trước những mất mát, thương đau của dân tộc.

2. Tác phẩm

a. Vị trí, xuất xứ

b. Giá trị

c. Bố cục

3. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Đọc hiểu theo đặc trưng thể loại

Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm

* Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:

– GV: gợi ý cho HS qua hệ thống các câu hỏi.

– Yêu cầu HS: Vận dụng Kĩ thuật Động não không công khai để thực hiện. Sản phẩm là bài thuyết trình bằng miệng (gọi một số HS trình bày mẫu)

– Hiện thực phố Khâm Thiên sau trận ném bom được miêu tả qua những hình ảnh nào?

– Những biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng để khắc họa hiện thực đó?

– Nêu giá trị gợi hình, gợi cảm của các hình ảnh, biện pháp được sử dụng?

* Thực hiện nhiệm vụ học tập

– GV: quan sát HS thực hiện nhiệm vụ học tập.

– GV hỗ trợ HS bằng hệ thống gợi ý nhỏ:

+ Định hướng cho HS tìm hiểu: Khung cảnh những người tử nạn, những người thân của người tử nạn, đám tang tập thể và cảnh tượng lưu lạc, di tán của con người được miêu tả như thế nào?

+ Gợi ý một số dẫn chứng.

* Thảo luận:

– GV: Gọi HS hoạt động độc lập

– Các HS khác bổ sung và thảo luận: bổ sung dẫn chứng + lời bình.

* Đánh giá và chốt ý

HS chốt ý.

 

 

 

II. Đọc hiểu:

1. Hiện thực của phố Khâm Thiên sau trận ném bom:

a. Hình ảnh những người tử nạn:

Cảnh người tử nạn vì chiến tranh:

+ Bút pháp tả chân với các hình ảnh chân thực “thân gãy nát”, “óc chảy ròng trên gạch”, “người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng”, “tay chân vặn vẹo thịt xương”, “lòng ruột mắc trên dây điện” đã diễn tả một cách rùng rợn đến gai người cảnh tượng chết chóc của phố Khâm Thiên. Người chết không còn được toàn vẹn. Cả không gian chìm trong không khí tuyệt vọng, hoang tàn.

+ Những câu thơ đã ghi trọn dấu ấn lịch sử: Chỉ trong 12 ngày đêm (từ ngày 18.12 – 29.12.1972), Mĩ đã sử dụng 441 lần chiếc B52 cùng hàng ngàn lần chiếc máy bay chiến thuật, ném hơn 10.000 tấn bom xuống Hà Nội. Phố Khâm Thiên bị bom B52 tàn phá dài trên 1km, gần 2.000 ngôi nhà, trường học, trạm xá bị phá sập, 287 người chết, 290 người bị thương.

Hình ảnh những người thân của người tử nạn:

+ Những em bé, những cụ già là đối tượng cần được bảo vệ, cần được nâng niu và chăm sóc, bởi họ là quá khứ giàu truyền thống, là tương lai đang vẫy gọi. Nhưng tại phố Khâm Thiên, bé thơ đã thành mồ côi, hằn trong ánh mắt là nỗi đau mất người thân. Cụ già đã trở nên điên dại, bởi trong tay cụ là khung cảnh đổ nát với “xác người nằm ngổn ngang/ báo đậy mặt, ruồi đậu bàn chân xám”.

+ Đưa ra hình ảnh “em bé, cụ già”, Lưu Quang Vũ khẳng định: chiến tranh đã gây ra tội ác khủng khiếp, không chỉ với quá khứ, hiện tại mà cả với tương lai của một dân tộc.

b. Hình ảnh đám tang tập thể:

Hình ảnh đám tang:

+ Hình ảnh chân thực “xe nối xe sừng sững chở quan tài” đã nói lên sự mất mát lớn lao của cuộc chiến.

+ Tác giả tiếp tục nhắc đến trẻ thơ, nhưng là “quan tài trẻ thơ như những chiếc hòm con”, càng cho thấy sự bi thương của số phận con người. Cái chết đối với những đứa trẻ chính là nỗi đau tàn khốc nhất, vì đó chỉ là những mầm non ngây thơ, nhưng đã sớm phải đón nhận hậu quả do tai vạ của người lớn.

+ Nghệ thuật dựng không gian chìm trong khói hương nghi ngút càng làm tăng thêm sự tang tác, tiêu điều của cảnh.

Hình ảnh những người dân di cư, lưu tán sau đám tang:

+ Thủ pháp tả chân tiếp tục được sử dụng, khắc họa hình ảnh lưu tán đầy thương đau của những con người “đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc” bị bứt ra khỏi ngôi nhà của chính mình.

+ Hình ảnh những cụ già một lần nữa được lặp lại trong dáng vẻ “vịn nhau dò dẫm”, “máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương” tô đậm nỗi đau của con người trong khoảnh khắc tội ác lịch sử diễn ra.

Chốt ý: Với lời văn, hình ảnh xác thực, Lưu Quang Vũ đã dựng lại khung cảnh của một sự kiện lịch sử có thật. Đó là hiện thực chiến tranh: không đẹp đẽ, hào nhoáng, không sung sức, thắng lợi mà chỉ là mất mát và bi kịch. Lưu Quang Vũ đã nhìn cuộc chiến đầy khắc khoải, đầy đau thương và tuyệt vọng, qua đó, để người đọc hiểu được một thời tàn khốc, một quá khứ đớn đau của dân tộc.

– Trước hiện thực đổ nát của phố Khâm Thiên, tác giả bộc lộ cảm xúc gì?

– Để tố cáo tội ác của kẻ thù, Lưu Quang Vũ đã có những hành động nào?

HS hoạt động độc lập.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Ý thức tự trách trên cương vị một tác giả – công dân của Lưu Quang Vũ về tội ác chiến tranh phố Khâm Thiên được biểu hiện như thế nào?

HS hoạt động độc lập.

2. Cảm xúc của nhà thơ trước hiện thực:

a. Tố cáo tội ác của kẻ thù:

Lưu Quang Vũ đã thẳng thắn gọi tên tội ác:

+ Với ông, cuộc ném bom của Mĩ ở Khâm Thiên là một “vụ thảm sát xưa nay chưa từng có”, thê thảm tận cùng mà bích họa Ghéc-ni-ca của thiên tài Picasso – bức tranh miêu tả nỗi kinh hoàng của ngôi làng Ghéc-ni-ca nhỏ bé khi phải chịu sự oanh tác của quân đội Phát xít – cũng không thể bằng. Bởi đây là cuộc thảm sát trên đất Việt Nam, với những người dân Việt Nam – những người như Lưu Quang Vũ, có thể là nhà thơ, là người lính, là chính khách… nhưng đã vĩnh viễn bị tước quyền sống.

+ Tuyên ngôn tình thương, tuyên ngôn nhân ái của Thánh kinh, nhạc luật hiền hòa của giao hưởng, sự thỏa thuê của công nghệ hiện đại cũng đã thành vô nghĩa.

+ Khi nhân loại đã ở năm 1972, đã thoát xa những mông muội, tối tăm của một thời Trung cổ, khi ánh sáng văn minh đang ngấp nghé trên bậc cửa thì thảm sát Khâm Thiên – “bể máu dâng đầy” chính là tội ác, là những xấu xa, đê nhục không thể lãng quên. Lưu Quang Vũ đã viết những dòng thơ này khi tuổi đời còn rất trẻ, viết với nỗi niềm đớn đau, bởi anh biết, sau đổ máu không phải là hạnh phúc mà là máu và nước mắt.

Ông chỉ mặt vạch tên kẻ gây ra tội ác và đồng lõa của chúng:

+ Với giọng thơ đanh thép, đầy căm phẫn, nhà thơ đã kết tội, đã nguyền rủa những kẻ gây ra tội ác: Kít-xinh-giơ – Ngoại trưởng Mĩ; Ních-xơn – Tổng thống Mĩ. Họ đều là những người lãnh đạo, những người đứng đầu quốc gia, kêu gọi hạnh phúc, kêu gọi bình yên nhưng lại chế súng bom hủy diệt, tàn hại sự sống.

+ Nhà thơ cũng hờn oán những người tự xưng “môi kề răng lạnh”, những người đón đưa chúc hòa bình, “quyên thuốc men”, “đi biểu tình” và tìm thấy lương tâm yên ả trong chính nỗi đau của đồng bào Việt Nam. Tiếng nói tố cáo, tiếng nói phản chiến của Lưu Quang Vũ đã vang lên mạnh mẽ.

b. Ý thức tự trách của tác giả – công dân:

Nhà thơ tự dằn vặt, tự trách cứ bản thân:

+ Trước thảm kịch của đồng bào, không ai có thể dửng dưng, lạnh nhạt. Ông khẳng định: “loài người chung vai nhận tội ác này/ anh và tôi, vâng, tôi nữa, cả tôi”

+ Đặc biệt với danh phận một người nghệ sĩ, nhà thơ càng cảm thấy đau xót trước cảnh tượng mất mát, tang thương. Ông dằn vặt “Không che chở được mẹ già em dại/ Khỏi quả bom tàn bạo tự trời cao”. Đây là tiếng lòng của con người mang nỗi đau dân tộc, mang nỗi bi thương không thể xóa mờ của đồng loại.

– Với ý thức trách nhiệm cao độ, Lưu Quang Vũ đã tự nhận mình là chứng nhân lịch sử, là ngòi bút trung thành, tận tụy với nhân dân, đất nước, với công bằng – tình yêu – cuộc sống của nhân loại cần lao:

+ Ông hiểu rằng, trước chiến tranh, con người không thể thờ ơ, không thể ngủ yên, không thể bình tĩnh với những lời thơ tụng ca tốt đẹp, không thể kết thúc với những lời thơ hoa mĩ. Tiếng thơ phải cất lên từ cuộc sống, phải là nỗi đau chung của cuộc đời, hòa nhập trong ngàn vạn mạng người, trong những xác chết cháy đen, tơi tả.

+ Nhất là thơ ông, không thể bình tĩnh, không thể dễ dãi với nụ cười mà phải là niềm đau: “để nói về những xác chết cháy đen/ để nói về/ những xác chết cháy đen”

Chốt ý: Trong dòng văn học cách mạng, khi thơ ca là những tiếng hát hào hùng cổ động chiến đấu, cổ động tinh thần và sức mạnh của đồng bào với niềm tin rực lửa về tương lai, về chiến thắng thì tiếng thơ bi thương thảm thiết, không né tránh hiện thực khốc liệt, tang thương của chiến tranh như Lưu Quang Vũ quả là một dấu hiệu mới mẻ, đưa thơ ca về gần với hiện thực đời sống con người. Nhờ những vần thơ của ông mà sự kiện Mĩ ném bom phố Khâm Thiên đã được lưu lại chân thực, ám ảnh, có sức truyền tải lớn trong tâm khảm của con người và các thế hệ mai sau.

Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

– HS tổng kết những đặc sắc nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

– GV nhận xét, bổ sung, hướng dẫn HS chốt ý.

III. Tổng kết:

1. Nội dung:

– Bài thơ là minh chứng lịch sử cho một quá khứ đau thương, tàn khốc của dân tộc. Hậu quả nó để lại là vô cùng to lớn, trở thành mảng kí ức không thể quên, nỗi đau lớn trong lòng dân tộc

– Qua bài thơ, tác giả tố cáo tội ác chiến tranh, bày tỏ sự căm phẫn trước những hành động máu lạnh của kẻ thù. Nhà thơ đồng thời thể hiện sự đau xót trước tình cảnh đồng bào, đó là tình thương đồng loại, tình thương của một công dân có trách nhiệm với cộng đồng.

2. Nghệ thuật:

– Thể thơ tự do

– Kết hợp các phương thức biểu đạt miêu tả, tự sự, biểu cảm

– Hình ảnh thơ chân thực, có sức ám ảnh cao

– Ngôn ngữ thơ giản dị, không cầu kì, hoa mỹ

– Giọng điệu xót xa, cay đắng, xen lẫn sự căm phẫn

  1. Củng cố:

– Nắm được hiện thực bi thảm của phố Khâm Thiên trong chiến tranh và cảm xúc thương xót, phản chiến của tác giả.

– Hiểu đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.

  1. Hướng dẫn chuẩn bị bài về nhà:

– Vận dụng phương pháp đọc hiểu theo đặc trưng thể loại để đọc hiểu các tác phẩm thơ: Mưa xuân (Nguyễn Bính), Xa cách (Xuân Diệu), Tranh lõa thể (Bích Khê), Trăng vàng trăng ngọc (Hàn Mặc Tử), Người dệt tằm gai (Vi Thùy Linh).

– Nộp lại sản phẩm đọc hiểu bằng văn bản.

 

Đọc hiểu: TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG

(Truyện ngắn – Văn bản phụ lục 2)

                       Trần Thùy Mai

  1. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
  2. Về kiến thức:

– Thấy được bi kịch tình yêu những khát khao quý báu của người phụ nữ.

– Nắm được đặc sắc nghệ thuật kể chuyện của tác giả nữ đương đại Trần Thùy Mai.

  1. Về kĩ năng:

– Có kĩ năng đọc hiểu thể loại truyện ngắn.

– Biết viết bài phân tích tác phẩm trên cơ sở đọc hiểu.

  1. Về thái độ:

Thông cảm với những bi kịch của con người, đặc biệt là người phụ nữ, từ đó thêm trân trọng, nâng niu sự sống của họ.

  1. Năng lực hướng tới:

– Năng lực cảm thụ nghệ thuật.

– Năng lực giao tiếp.

– Năng lực tìm kiếm thông tin.

  1. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

– Giáo viên: Giáo án, tư liệu tham khảo, công cụ dạy học…

– Học sinh: Vở ghi, vở soạn.

  1. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
  2. Ổn định tổ chức, kiếm tra sĩ số:
  3. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra phần chuẩn bị vở soạn, tài liệu của HS

III. Bài mới:

Hoạt động của GV và HS Nội dung chính
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm:

* Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:

– GV yêu cầu: HS dựa trên các tài liệu tham khảo, tìm hiểu một số vấn đề về tác giả và tác phẩm.

HS Vận dụng kĩ thuật Động não không công khai để tìm hiểu tác giả, tác phẩm.

 

– GV gợi ý một số câu hỏi khái quát:

+ Trình bày những nét chính vềtiểu sử, con người và sự nghiệp sáng tác của Trần Thùy Mai.

 

+ Trình bày vị trí, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt truyện ngắn và nêu giá trị cơ bản?

 

*Thực hiện nhiệm vụ học tập:

HS hoạt động độc lập.

GV hướng dẫn HS tìm kiếm thông tin, tư liệu, trao đổi về tác giả và nội dung tác phẩm.

* Thảo luận:

– Một số HS trình bày sản phẩm.

– GV:Gọi HS trong lớp thảo luận.

 

*Đánh giá và chốt ý:

– GV gọi HS bổ sung.

– GV cung cấp thêm 1 số thông tin; hướng dẫnHS chốt ý.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– GV hướng dẫn HS phương pháp đọc hiểu tác phẩm.

 

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

1.1. Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Trần Thùy Mai (sinh ngày 8 tháng 9 năm 1954), tên thật là Trần Thị Thùy Mai, sinh ra ở Hội An, Quảng Nam, quê gốc ở xã Hương Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

+ Tốt nghiệp Tú tài 2 năm 1972, bà thi đậu thủ khoa môn Văn trường Đại học sư phạm Huế.

+ Năm 1977, sau khi tốt nghiệp, bà được giữ lại trường, làm công tác giảng dạy và nghiên cứu môn Văn học dân gian.

+ Năm 1987, bà quyết định chuyển sang làm biên tập viên ở nhà xuất bản Thuận Hóa, chính thức đi theo con đường viết văn.

– Con người: Trần Thùy Mai là người phụ nữ Huế nhẹ nhàng, tinh tế, sâu sắc, luôn quan tâm đến mọi mặt của cuộc sống, nhất là con người với bao yêu thương, tin tưởng.

1.2. Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm tiêu biểu: Thị trấn quỳ hoa vàng (tập truyện ngắn, 1994), Thập tự hoa (tập truyện ngắn, 2003), Mưa đời sau (tập truyện ngắn, 2005), Trăng nơi đáy giếng (tập truyện ngắn, 2010)…

– Đặc điểm sáng tác:

+ Trần Thùy Mai là một ngòi bút với bút lực mạnh mẽ. Những truyện ngắn của bà rất đa dạng, phảng phất không khí xứ Huế dịu dàng, đằm thắm. Bà viết nhiều về giới trẻ và lối sống của những người trẻ. Khi giới trẻ cuốn theo nhịp sống hiện đại, bà không hề có tâm trạng hoài nghi, lo sợ hay bế tắc mà luôn tạo ra được một bản lĩnh để lớp trẻ đối mặt, sống hòa nhập với nhịp sống hiện đại, thậm chí biết vượt lên nó để vươn tới những cái đẹp vĩnh cửu.

+ Bà đặc biệt quan tâm đến đề tài tình yêu và số phận con người. Tình yêu trong sáng tác của bà là những mối tình đau thương, đẫm nước mắt. Viết về tình yêu cũng là cách thức để bà dành tình cảm ưu ái cho cuộc sống và con người.

– Vị trí: Trần Thùy Mai là một trong những cây viết nữ tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam.

2. Tác phẩm

a. Vị trí, hoàn cảnh ra đời:

– Vị trí: Trăng nơi đáy giếng là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Trần Thùy Mai, truyện ngắn được chuyển thể thành phim và đoạt giải Cánh diều bạc năm 2008, tiêu biểu cho nghệ thuật kể chuyện đương đại.

– Hoàn cảnh ra đời: tác phẩm sáng tác năm 2010.

b. Tóm tắt

c. Giá trị

– Nội dung

– Nghệ thuật

3. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Truyện ngắn Trăng nơi đáy giếng được đọc hiểu theo đặc trưng thể loại truyện ngắn.

Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm

* Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:

GV yêu cầu HS Vận dụng kĩ thuật động não không công khai, Thảo luận viết để đọc hiểu hình tượng nhân vật.

 

* Thực hiện nhiệm vụ học tập:

 

+ HS hoạt động độc lập.

 

+ GV gợi ý một số câu hỏi:

Nhân vật cô Hạnh đã được giới thiệu như thế nào? (qua các biểu hiện bên ngoài và bên trong ra sao)

 

Số phận của cô có đặc điểm gì đáng chú ý?

 

Diễn biến tâm trạng của cô được khắc họa qua các sắc thái cung bậc như thế nào?

 

* Thảo luận:

+ HS báo cáo.

 

+ Thảo luận: HS đặt 1 số câu hỏi thảo luận.

* Đánh giá và chốt ý:

GV đánh giá, hướng dẫn HS chốt ý.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Hãy trình bày từng bước dẫn tới việc Hạnh đánh mất vị trí của một người vợ?

GV gợi ý:

+ Sau khi li hôn với chồng, Hạnh mới bàng hoàng nhận ra sự thực như thế nào?

+Sau cơn bàng hoàng, Hạnh sốt li bì, rụng gần nửa đầu. Để an ủi, chồng cô đưa đứa con riêng sang ở với cô. Hạnh thấy thỏa mãn “cô ôm chặt lấy cu Nhứt, như cố níu giữ cái phiên bản của người đàn ông mà cô tôn thờ”. Điều ấy có ý nghĩa gì?

+ Sau khi cô Thắm sinh đứa con thứ hai, cu Nhứt được đón về. Hạnh lại cô đơn, đau khổ. Hãy tìm dẫn chứng lý giải cho biểu hiện đó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Ngày Hạnh lại trở thành một người vợ thì tác giả đã khắc họa những biểu hiện nào trong nội tâm của nhân vật?

+ Khi người chồng đến khuyên can, cô tức giận, thậm chí còn ném khay ấm vào người chồng. Vì sao Hạnh lại có biểu hiện như vậy?

 

 

 

Suy nghĩ của anh/chị về thế giới tâm hồn và số phận của Hạnh?

 

 

 

 

 

 

II. Đọc hiểu:

1. Hình tượng nhân vật cô Hạnh

a. Giới thiệu nhân vật:

*Biểu hiện bên ngoài:

– Nghề nghiệp: giáo viên

– Hành động: luôn hướng về người chồng.

*Biểu hiện bên trong:

– Tâm hồn: yêu chồng, luôn nhẫn nhịn và hi sinh cho chồng.

– Diễn biến tâm trạng: từ tình yêu gần như tôn thờ chồng đến sự vỡ mộng.

=>Nhà văn chủ yếu khai thác thế giới tâm linh, diễn biến tâm trạng của nhân vật.

b. Số phận:

Cuộc đời cô Hạnh là cuộc đời chồng chất của biết bao bi kịch:

– Cô Hạnh lấy chồng, một người chồng học thức, gia đình êm ấm nhưng cô lại không được trải qua hạnh phúc làm mẹ. Tạo hóa đánh mất của cô niềm an ủi lớn nhất của người phụ nữ – được làm mẹ, được có một đứa con. Đây là bi kịch đầu tiên của cô.

– Vì không có con, cô đã tự nguyện tìm vợ bé cho chồng, nối duyên chồng với cô Thắm – một người phụ nữ ở quê – để chồng có thể có được hạnh phúc làm cha. Sự việc vỡ lở, trước nguy cơ chồng bị kiểm điểm, cô đành li hôn để chồng đến với người đàn bà khác. Người chồng suốt bao năm sinh sống lại thành ra chồng người, còn người vợ chính chuyên như cô lại phải chấp nhận cảnh cô đơn, vò võ. Đây là bi kịch thứ hai, đầy đau đớn, xót xa của người đàn bà về sự dang dở, mất mát trong tình yêu.

– Nhưng, đau đớn nhất với cô Hạnh không chỉ là mất đi người chồng mà hơn hết còn là mất đi một điểm tựa, một chỗ dựa tâm linh. Ngày ở với chồng, cô yêu và tôn thờ chồng như một vị thánh. Đến khi chồng ở nhà người khác, cô tận mắt chứng kiến cảnh anh lam lũ làm việc chẳng khác gì một người bình dân lao động. Cô đổ vỡ ảo tưởng tinh thần về vị thánh của riêng mình. Cô lâm vào bi kịch lớn của sự vỡ mộng.

Cuộc đời, số phận của cô Hạnh tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác của nhà văn Trần Thùy Mai: luôn ám ảnh với những bi kịch về phận người, luôn đau đáu trong những nỗi niềm về tình yêu và sự mất mát của con người, nhất là người phụ nữ.

c. Diễn biến tâm trạng:

Ngày Hạnh là một người vợ:

+ Cô làm tất cả những gì có thể để cho người chồng mà cô yêu được hạnh phúc, được bình an. Cô yêu thương chăm sóc chồng từng li từng tí:tất tả đi mua bún mỗi buổi sáng hầu hạ chồng – ngày nào cũng như ngày nào – bất kể nắng mưa – “những hôm mưa lâm thâm, cái dáng gầy của cô co ro, tay cô cầm chiếc nón cố che cho kín tô bún, chứ chẳng nhớ che đầu”; tỉ mỉ chuẩn bị “nước tôm thật sánh, thật thơm, đỏ rực”, “thịt bò nấu canh với hoa thiên lý, tô canh dìu dịu mùi hương ngọt ngào”;khéo léo gọt những củ khoai ngọt, dẻo nhất, hấp với lá dứa để chồng ăn lúc thức khuya đọc sách… Cô nâng niu anh như một vị thánh sống. Hạnh coi chồng mình như một biểu tượng của tất cả những gì cao đẹp nhất trong cuộc đời.

+ Khi biết mình không thể có hạnh phúc được làm mẹ, Hạnh không nỡ chứng kiến vẻ buồn thầm lặng trên khuôn mặt chồng, cô nén đau đi tìm người đàn bà để sinh con cho chồng. Cô đã chấp nhận hi sinh để chồng được bình yên. Cô tìm vợ bé cho chồng và chăm sóc người đàn bà ấy khi có thai. Cô đã dâng hiến tất thảy của mình cho chồng và hạnh phúc của chồng. Cô tưởng như mình đã thỏa.

+ Khi sự việc vỡ lở, trước nguy cơ chồng bị kiểm điểm, Hạnh càng không chấp nhận khuôn mặt buồn bã của chồng, bất chấp việc anh gàn đi: “Chức hiệu trưởng là cái gì… Bỏ, bỏ hết. Với tôi, chỉ cần mình vui lòng. Tôi chấp nhận mất tất cả”. Cô tự nhủ với lòng:  “khi người ta thực lòng thương yêu nhau, có điều gì mà không thể hi sinh”. Cô tự nguyện li hôn, để chồng đến với người khác, cô gom hết tiền mua nhà cho chồng ở với người đàn bà kia. Nhưng Hạnh không ngờ rằng tất cả những điều đó lại đánh bật cô ra khỏi chồng mình. Hạnh không biết tình yêu và sự hi sinh vô điều kiện ấy lại biến cô thành một sự lợi dụng, lừa dối tàn nhẫn của chồng và người đàn bà kia. Hạnh trở thành xa lạ trong chính hạnh phúc, với chính vị thánh mà cô nâng niu.

Ngày Hạnh đánh mất vị trí một người vợ:

+ Sau khi li hôn với chồng, Hạnh mới bàng hoàng nhận ra sự thực: cô chỉ là một vật thừa. Nhưng Hạnh đau đớn mà vẫn nuối tiếc, cô không nỡ buông tay vị thánh của đời mình.

+ Sau cơn bàng hoàng, Hạnh sốt li bì, rụng gần nửa đầu. Để an ủi, chồng cô đưa đứa con riêng sang ở với cô. Hạnh thấy thỏa mãn “cô ôm chặt lấy cu Nhứt, như cố níu giữ cái phiên bản của người đàn ông mà cô tôn thờ”. Cô yêu thương, chăm chút cho thằng bé bởi soi trong nó, cô thấy được hình bóng của người chồng.

+ Sau khi cô Thắm sinh đứa con thứ hai, cu Nhứt được đón về. Hạnh lại cô đơn, đau khổ. Cô có con chó của thằng bé để an ủi. Cô soi trong con chó thấy được hình bóng của đứa bé, cũng là tìm được mối dây liên kết với chồng, nhưng con chó bỏ đi.

+ Khi cô đến nhà chồng thăm con, cô thấy con chó ở nhà chồng. Hạnh đau đớn ý thức: đến con chó còn bỏ cô mà đi. Hạnh càng đau khổ hơn khi nhìn thấy cảnh vị thánh của mình đang lúi húi giặt quần áo bên vòi nước ở sân. Một loạt các phản ứng diễn ra: “sững sờ, ngẩn cả người không sao nói một lời”; “một đòn giáng mạnh vào chị làm chị quá sức hơn bất cứ một đòn giáng nào khác (không hiểu sao đã chịu đựng bao nhiêu điều nặng nề, mà giờ đây tôi lại không kham nổi cái cảnh tượng hết sức bình thường thế này?)”; Hạnh cố gắng về đến nhà;“lăn ra khóc, khóc thảm thiết, khóc như trong nhà có người chết”; “rơi vào trạng thái mê man, mộng mị”; chết hẳn về tinh thần và  chết dần về thể xác “một lần nữa tôi ốm nặng, tóc rụng lả tả trên gối”…Người chồng mà cô yêu quý, vị thánh mà cô tôn thờ lại thành người đàn ông tầm thường trong vòng tay người khác. Cô hoàn toàn vỡ mộng và lâm vào bi kịch.

Ngày Hạnh lại trở thành một người vợ:

+ Sau khi vỡ mộng, nghe lời bà đồng Thơi, cô kết duyên âm với một người chồng mà cô gọi là ông Hoàng Bảy, trấn phủ tỉnh Thừa Thiên. Cô Hạnh thỏa mãn, hạnh phúc. Hàng ngày cô chăm chút, dọn dẹp cho bức tượng thờ.

+ Khi người chồng đến khuyên can, cô tức giận, thậm chí còn ném khay ấm vào người chồng.

+ Sau đó, Hạnh lại mãn nguyện, hạnh phúc, thong dong đi chợ sắm áo dài trảy hội, bên chồng Hoàng.

=> Hạnh là người phụ nữ mang những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Á Đông: thương chồng, giàu đức hi sinh, luôn tận tụy và hết lòng yêu thương. Nhưng Hạnh cũng là người phụ nữ đầy khổ đau khi cô phải chấp nhận bi kịch vỡ mộng của một điểm tựa tinh thần – người chồng, phải đi từ sự đổ vỡ này đến một ảo ảnh khác đau đớn hơn: người chồng trong ảo mộng. Bi kịch của cô là bi kịch tình yêu không lối thoát người phụ nữ khao khát tình thương, ước ao nâng niu một tình cảm trọn vẹn, cao quý mà phải chịu tổn thương, mất mát.

 

– Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của truyện ngắn?

 

HS hoạt động độc lập.

HS tìm dẫn chứng về các chi tiết giàu giá trị biểu hiện nội tâm nhân vật Hạnh, những chi tiết có sức gợi, sức ám ảnh.

 

 

 

 

 

 

 

GV giảng cho học sinh hiểu thêm về nghệ thuật tạo khoảng trắng trong tác phẩm văn xuôi sau 1975.

 

 

 

 

 

 

 

 

GV hướng dẫn học sinh chốt ý về đặc sắc của nghệ thuật trần thuật của văn xuôi sau 1975.

2. Nghệ thuật kể chuyện:

Lối trần thuật độc đáo, từ nhiều điểm nhìn (điểm nhìn ngôi thứ bacủa những người hàng xóm; điểm nhìn ngôi thứ nhất từ nhân vật Hạnh), soi rọi nét tính cách, số phận và sự phức tạp trong tâm lí nhân vật, làm cho hình tượng cô Hạnh tuy bề ngoài rất cá biệt nhưng lại có tầm khái quát cao.

Xây dựng chi tiết giàu ý nghĩa:

+ chi tiết con chó bỏ về nhà chủ cũ.

+ chi tiết người chồng giặt quần áo ngoài sân.

+ chi tiết trăng nơi đáy giếng trong lời báo của cô đồng như một điềm về cuộc đời của Hạnh: những điều tưởng thực mà lại là hư ảo, những điều tưởng giả dối lại là sự thực. Người chồng thực của cô lại là chồng hờ, chồng của người khác. Còn người chồng cõi âm mờ mịt sương khói mới là điểm tựa tinh thần duy nhất của Hạnh. Cuộc đời Hạnh là cuộc đời của trăng nơi đáy giếng, đẹp, dịu dàng mà mong manh, hư ảo.

Nghệ thuật tạo khoảng trắng: kết thúc câu chuyện là sự trơ trọi vĩnh viễn đầy ám ảnh: Hạnh yêu chồng, tôn thờ chồng, nâng anh thành vị thánh sống của tình yêu và niềm tin.Nhưng chồng cô lại là một phần của lẽ đời đầy dục vọng và toan tính. Hạnh lại tìm đến một cách giải thoát khác: yêu chồng qua hình hài của người rơm trên bàn thơ mà cô gọi là ông Hoàng Bảy – người chồng thứ hai. Hạnh đã rơi vào trạng thái hoang tưởng, mê man nặng trĩu. Hạnh đã thực sự không còn gì. Cô không dám đối diện với sự thật rằng: ngôi nhà là của Phương, Phương là của Thắm, con chim là của bầu trời, người rơm là của cánh đồng và không có cái gì là của Hạnh, cả thân xác cũng không còn là của Hạnh, Hạnh đã chết rũ từ lúc không còn Phương.

Khắc họa tâm lí nhân vật qua nghệ thuật độc thoại nội tâm, nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong nhiều chiều thời gian khác nhau: hiện tại – quá khứ; hiện thực – tâm tưởng, tạo ra một thế giới vô cùng phong phú, phức tạp.

Giọng điệu: đa thanh, vừa trăn trở, day dứt, vừa chua xót, ngậm ngùi.

Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

 

– HS tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn.

 

– GV nhận xét, bổ sung, hướng dẫn HS chốt ý.

III. Tổng kết

1. Nội dung:

– Tác phẩm phản ánh sâu sắc tấn bi kịch tình yêu, bi kịch tinh thần của người phụ nữ.

– Qua những bi kịch ấy, tác phẩm gửi gắm ý nghĩa nhân văn sâu sắc về cuộc đời, về ý nghĩa tồn tại của con người và cách thức quan hệ giữa người với người trong cuộc sống.

2. Nghệ thuật:

+ Khắc họa thành công tâm lí nhân vật.

+ Xây dựng chi tiết đắc địa

+ Ngôn ngữ dung dị, mang đậm bản sắc xứ Huế.

+ Giọng điệu đa thanh, truyền cảm.

  1. Củng cố:

– Thấy được những vẻ đẹp tinh thần đáng quý và tấn bi kịch của người phụ nữ.

– Hiểu đặc sắc nghệ thuật trong sáng tác Trần Thùy Mai.

  1. Hướng dẫn chuẩn bị bài về nhà:

– Vận dụng phương pháp đọc hiểu theo đặc trưng thể loại để đọc hiểu các tác phẩm truyện ngắn: Lang Rận (Nam Cao), Kép Tư Bền (Nguyễn Công Hoan), Nhà mẹ Lê (Thạch Lam), Mưa (Nguyễn Huy Thiệp), Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu)

– Nộp lại sản phẩm đọc hiểu bằng văn bản.

                                 

      

 

Đọc hiểu: LỤA (trích)

(Tiểu thuyết – Văn bản phụ lục 3)

               Alessandro Baricco

  1. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
  2. Về kiến thức:

– Cảm nhận được những phức tạp trong tâm lí con người, từ đó thấy được vẻ đẹp của tình yêu và cuộc sống.

– Hiểu được ngòi bút trữ tình độc đáo, mới mẻ của nhà văn.

  1. Về kĩ năng:

– Có kĩ năng đọc hiểu thể loại tiểu thuyết.

– Biết viết bài phân tích tác phẩm trên cơ sở đọc hiểu.

  1. Về thái độ:

Trân trọng vẻ đẹp của khát vọng tình yêu, khát vọng sống.

  1. Năng lực hướng tới:

– Năng lực cảm thụ nghệ thuật.

– Năng lực xử lí tư liệu, đọc hiểu tác phẩm dịch.

– Năng lực giao tiếp.

  1. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

– Giáo viên: Giáo án, tư liệu tham khảo, công cụ dạy học…

– Học sinh: Vở ghi, vở soạn.

  1. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
  2. Ổn định tổ chức, kiếm tra sĩ số:
  3. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra phần chuẩn bị vở soạn, tài liệu của HS

III. Bài mới:

Hoạt động của GV và HS Nội dung chính
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm

* Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:

– GV yêu cầu: HS dựa trên các tài liệu tham khảo, tìm hiểu một số vấn đề về tác giả và tác phẩm.

– GV gợi ý một số câu hỏi khái quát:

+ Trình bày những nét chính về tiểu sử, con người và sự nghiệp sáng tác của Alessandro Baricco.

+ Trình bày vị trí, xuất xứ và tóm tắt tác phẩm?

+ Nêu vị trí và giá trị cơ bản của đoạn trích?

*Thực hiện nhiệm vụ học tập:

HS hoạt động độc lập.

* Thảo luận:

– HS trình bày sản phẩm.

– GV: Gọi HS trong lớp thảo luận.

*Đánh giá và chốt ý:

– GV gọi HS bổ sung.

– GV cung cấp thêm 1 số thông tin; hướng dẫn để HS chốt ý.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– GV hướng dẫn HS phương pháp đọc hiểu tác phẩm.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

a. Tiểu sử, con người

– Tiểu sử:

+ Alessandro Baricco là một nhà văn, đạo diễn, nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng người Ý sinh năm 1958 tại thành phố Turin (Italia).

+ Sau khi tốt nghiệp ngành âm nhạc và triết học, ông làm việc một thời gian trong lĩnh vực phê bình âm nhạc trên các tờ báo La RepubblicaLa Stampa của Italia.

+ Ông xuất hiện trong tư cách nhà văn với tiểu thuyết đầu tay Castelli di rabbia (Lâu đài nổi giận) sáng tác năm 1991 và năm 1995, nhận được giải thưởng văn học Médicis của Pháp dành cho tác phẩm văn học nước ngoài xuất sắc nhất.

+ Năm 1993, cùng với một số người bạn, ông đã mở trường viết văn Ý Holden có trụ sở đặt tại Turin – thành phố quê hương ông – với mục tiêu nghiên cứu các kĩ thuật kể chuyện dựa trên một cái nhìn đa ngành: viết truyện, điện ảnh, sân khấu, phát thanh…

– Con người: Alessandro Baricco là con người khiêm cẩn, nghiêm túc trong hoạt động nghệ thuật, luôn trăn trở trên hành trình khám phá con người, hướng con người đến những vẻ đẹp bất tận của cuộc sống.

b. Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm chính: Oceano Mare (Đại dương biển) – 1993; Seta (Lụa) – 1996; Senza sangue (Không lấm máu) – 2002…

– Đặc điểm sáng tác: Alessandro Baricco là người nghệ sĩ luôn dạt dào xúc cảm với quê hương, với con người và cuộc sống, có thiên hướng tinh giản trong nghệ thuật kể chuyện, đẽo gọt câu chữ đến mức tối đa để qua đó truyền tải những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, những giá trị tinh túy của cuộc đời.

– Vị trí văn học sử: Alessandro Baricco là “bậc thầy kể chuyện” có tầm ảnh hưởng lớn và nổi tiếng bậc nhất ở Italia, sáng tác của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

2. Tác phẩm, đoạn trích:

2.1. Tác phẩm:

2.1.1 Vị trí, xuất xứ:

– Được xuất bản lần đầu tại Italia vào năm 1996 và tại Pháp năm 1997, Lụa đã nhanh chóng gây được tiếng vang lớn, trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất ở châu Âu, đưa tên tuổi Alessandro Baricco đến với văn đàn thế giới.

2.1.2. Tóm tắt:

Lụa là câu chuyện về chàng trai Hervé Joncour – một thương gia người Pháp buôn trứng tằm – và hai người phụ nữ, một người là vợ chàng – Hélene. Năm 1861, một dịch bệnh bùng phát tại châu Âu và tiêu hủy hàng loạt trứng tằm. Để thoát khỏi tình cảnh đó, Hervé đã lên đường đến nơi tận cùng bên kia thế giới, đến một xứ sở trong truyền thuyết của những mảnh lụa chất lượng tốt nhất: Nhật Bản. Tại đây, một cuộc tình không lời, âm thầm và kì lạ đã nảy sinh giữa chàng với người thiếp của lãnh chúa địa phương – một người phụ nữ có khuôn mặt của một cô gái trẻ và đôi mắt không có dáng phương Đông. Hervé đi đến Nhật bốn lần, từ chuyến đi vì công việc cho đến cuối cùng là những chuyến đi trong niềm khao khát và say mê. Đến khi chiến tranh nổ ra ngăn cách chàng với nước Nhật, Hervé đã bị ám ảnh mãi mãi.

2. Tác phẩm, đoạn trích

a. Giá trị tác phẩm. Lụa pha trộn những sắc màu bí ẩn về tình yêu và cuộc sống, từ đó bộc lộ vẻ đẹp cao thượng trong tâm hồn con người.

b. Vị trí đoạn trích:

Từ chương 20 – 40, bắt đầu trong lần thứ hai Hervé đến Nhật Bản.

3. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc hiểu đoạn trích

* Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:

– GV: gợi ý cho HS qua hệ thống các câu hỏi.

– Yêu cầu HS: Vận dụng Kĩ thuật Thảo luận nhóm để thực hiện. Sản phẩm là bài thuyết trình bằng miệng.

– Hoàn cảnh nào dẫn Hervé đến Nhật? Xác định hoàn cảnh khách quan và hoàn cảnh chủ quan trong chuyến viễn du của chàng?

– Hình ảnh người thiếu phụ Nhật Bản được miêu tả như thế nào?

* Thực hiện nhiệm vụ học tập

– GV: quan sát HS thực hiện nhiệm vụ học tập.

Hỗ trợ HS bằng hệ thống gợi ý nhỏ.

+ Định hướng cho HS tìm hiểu:

Hoàn cảnh khách quan dẫn đến chuyến đi của Hervé? (Ở nước Pháp? Ở nước ngoài?)

Hoàn cảnh chủ quan? (cảm quan của Hervé)

Ngoại hình, hành động và vẻ đẹp của hình tượng người thiếu phụ.

+ Gợi ý một số dẫn chứng.

* Thảo luận:

– GV: Gọi HS hoạt động độc lập

– Các HS khác thảo luận, bổ sung sản phẩm.

* Đánh giá và chốt ý

GV hướng dẫn HS chốt ý.

 

 

 

 

II. Đọc hiểu đoạn trích:

1. Hành trình viễn du Nhật Bản của Hervé

a. Lần thứ hai Hervé đến Nhật

* Hoàn cảnh:

Hoàn cảnh khách quan:

+ Ở Pháp: Trận dịch bệnh tằm gai đến Lavilledieu như một cơn bão lớn, cuốn trôi tất cả của cải để báo hiệu cho một sự tàn lụi. Không một lời giải thích, cơn bão đổ ập đến, đặt mỗi một thương nhân, một cư dân của thị trấn nhỏ Lavilledieu trước vấn đề cơ bản nhất của tồn tại – sinh kế. Để sống sót, người bạn già đầy uyên bác của Hervé Joncour – Baldabiou đã nói: hãy đi về phía trước, hướng đến nước Nhật, “tận chân mây cuối trời”, “chỗ cùng trời cuối đất”.

+ Ở nước ngoài: Từ những năm 1853 của hai thập kỉ trước vắt ngang qua hai châu lục, từ thời điểm nước Nhật thực sự ở “tận chân mây cuối trời”, “hoàn toàn biệt lập với phần còn lại của loài người, từ chối giao tiếp với lục địa và nghiêm cấm người ngoại quốc vào nước mình”, chuyến đi của Hervé đã diễn ra. Chàng đi xuyên qua mặt đất, băng qua những khắc nghiệt, mang trên mình niềm khao khát tồn tại và đến với những chân trời, để lại sau lưng người vợ dịu hiền. Chặng đường mà Hervé đi qua trong ngòi bút tinh tế của Alessandro Baricco đã được lặp đi lặp lại: “Anh qua biên giới gần thành Metz, đi xuyên qua vùng Wurtemberg và vùng Bavière, vào nước Áo, lên thành Vienne rồi thành Budapest bằng tàu lửa, tiếp tục đi đến thành Kiev. Anh cưỡi ngựa băng qua hai ngàn cây số vùng thảo nguyên Nga, vượt rặng núi Oural, tiến vào vùng Sibérie, mất hết bốn chục ngày nữa anh mới tới hồ Baikal mà người dân địa phương gọi là: con quỷ. Anh xuôi dòng sông Amour, đi dọc theo biên giới Tàu cho đến bờ Đại Dương, và khi tới đó anh nằm dài mười một ngày ở hải cảng Sabirk chờ đợi một con tàu của bọn buôn lậu Hà Lan đưa anh tới Capo Teraya nằm ở bờ biển phía tây nước Nhật . Đi bộ trên những con đường phụ, anh xuyên qua các tỉnh Thạch Xuyên, Hộ Sơn, Tân Tích, vào sâu trong tỉnh Phúc Đạo và khi đến gần thành phố Bạch Xuyên thì anh đi vòng tránh nó bằng ngả phía đông rồi chờ suốt hai ngày một người đàn ông mặc đồ đen bịt mắt anh lại và dẫn anh đi cho tới một ngôi làng” như một ẩn dụ xuất sắc cho hành trình giao thương giữa châu Âu và phương Đông huyền bí, cho khao khát khám phá thế giới trong thẳm sâu linh hồn con người.

Hoàn cảnh chủ quan:

+ Hervé luôn có niềm vui âm thầm là ngắm nhìn cuộc đời mình như một khán giả theo dõi sân khấu, như một người thường, lặng lẽ, ngắm một ngày mưa. Cuộc đời anh trôi nổi giữa những trứng và tằm, giữa mua và bán.

+ Chuyến viễn du đến Nhật Bản đối với anh là một cơ hội đổi thay trong nhịp đời chầm chậm, để anh được mở mang cuộc đời của chính mình. Có lẽ thế mà Baricco đã để hồ Baikal xuất hiện trong tâm thức lần đầu anh đi qua với tên gọi: biển – biểu trưng cho những chân trời mới, cho những giấc mơ đầy nắng hơn miền quê mà anh đã sống.

+ Trong chuyến đi này, bằng một ánh mắt, không lời, không tiếng động, anh đã rơi vào nỗi ám ảnh tận cùng với người thiếp của lãnh chúa ngôi làng anh mua trứng tằm. Phải chăng vì thế mà lần thứ hai anh đến Nhật, hồ Baikal lại hiện diện qua một tên gọi khác: con quỷ – quỷ của nỗi ám ảnh, quỷ của những niềm say mê không lời, không duyên cớ, báo hiệu trước những huyền bí sẽ theo anh trong suốt cuộc đời.

* Hình ảnh người thiếu phụ Nhật Bản:

Ngoại hình, hành động:

+ Người thiếu phụ thường xuất hiện, điểm xuyết. “Đôi mắt nàng không có dáng phương Đông, và khuôn mặt nàng là khuôn mặt của một cô gái trẻ”.

+ Với dáng hình chậm rãi, với những cử chỉ nhẹ nhàng, cuộc tình không lời giữa nàng với người thương nhân người Pháp đã diễn ra, trong chiếc găng tay rơi nhẹ bên mặt hồ; trong hơi ấm mơn man trên da thịt của đôi bàn tay – lụa và ngay tại miếng giấy run rẩy chữ này dưới chữ kia, mực đen – chữ Nhật.

Vẻ đẹp của người thiếu phụ:

+ Nàng là thứ lụa đỏ rực như ngọn lửa, cuốn hút, quyến rũ, như thể thuộc về anh từ hàng ngàn năm trước, lộng lẫy mà hư ảo.

+ Nàng là niềm ao ước của Hervé về cuộc đời, bởi người thiếu phụ ấy không chỉ là một người đàn bà với vẻ đẹp tinh khôi, ẩm ướt và mềm mại; mà còn là lụa, là tương lai của cả thị trấn và sự sống cho hàng ngàn con người; mà còn là một vùng đất mới của văn hóa Á Đông huyền bí đang vẫy gọi cách mạng công nghiệp Âu châu.

* Chuyển giao nhiệm vụ học tập:

GV chia lớp thành 2 nhóm: Nhóm 1 trình bày bước 1, Nhóm 2 trình bày đọc tác phẩm và vở soạn; Vận dụng kĩ thuật mảnh ghép:

+ Vòng 1: Nhóm 1 và nhóm 2 trình bày 4 nội dung:

Nội dung 1: Hoàn cảnh chuyến đi thứ ba đến Nhật của Hervé

Nội dung 2: Mối tình của Hervé và người thiếu phụ Nhật Bản.

Nội dung 3: Tâm trạng của Hervé

Nội dung 4: Mạch truyện sau đó.

+ Vòng 2: Tách nhóm (hình thức theo mô hình): đảo quay vòng.

– Thực hiện nhiệm vụ học tập:

+ GV quy định: thời gian 4 phút cho mỗi thành viên/ nhóm.

+ GV gợi ý 1 số câu hỏi:

Xác định hoàn cảnh ở Pháp và ở Nhật trong chuyến đi lần thứ ba của Hervé?

– Ý nghĩa một số hình ảnh ẩn dụ về mối tình của Hervé: cánh chim, chuồng chim, đêm tình?

Tâm trạng của Hervé khi ở Nhật và khi trở về Pháp?

Nêu một số sự kiện sau đó?

* Thảo luận:

+ HS báo cáo.

+ Thảo luận: HS đặt 1 số câu hỏi thảo luận.

* Đánh giá và chốt ý:

HS tự đánh giá phần trình bày của các nhóm..

Hướng dẫn HS chốt ý.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Nêu một số nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của đoạn trích?

HS hoạt động độc lập.

 

b. Lần thứ ba Hervé đến Nhật

* Hoàn cảnh:

Ở Pháp:

+ Trở lại quê nhà sau lần thứ hai đến Nhật, Hervé đắm mình trong vòng tay dịu dàng, trong giọng nói mượt mà như nhung của người vợ Hélene. Như nhung, không phải lụa. Một thứ nhung của Âu châu, mềm và quen thuộc, và dịu dàng, nhưng không thể khỏa lấp những huyền bí và trơn mượt mà lụa đem lại. Hervé mang trong thân thể niềm nhung nhớ với miếng giấy, với người thiếu phụ ở bờ kia xa xôi.

+ Anh tìm đến Bạch nương – người đàn bà Nhật giữa đất Pháp. Tờ giấy nhỏ “Trở lại, không tôi chết mất” qua Bạch nương đã đến với Hervé, đằm vào tâm khảm, để anh – dù lưỡng lự, vẫn sẵn sàng trở lại Nhật Bản.

+ Chuyến đi lần thứ ba của Hervé diễn ra. Lần này, hồ Baikal lại xuất hiện với một tên gọi khác: người cuối cùng, mang theo giấc mộng ấp ủ của anh về người con gái Nhật đầy bí ẩn.

Ở Nhật Bản: Chiến tranh đã diễn ra ngay trên chính ngôi làng mà anh ở và mua trứng tằm.

* Mối tình của Hervé và người thiếu phụ Nhật Bản:

– Hình ảnh ẩn dụ cánh chim và chuồng chim:

+ Chiến tranh nổ ra, hàng ngàn con chim sổ lồng và bay trên bầu trời. Không phải ngẫu nhiên mà Baricco đã để cho hình ảnh cánh chim và chuồng chim xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm. Tại cuộc trò chuyện với lãnh chúa Nguyên Mộc, Hervé biết nhìn cánh chim bay để biết tương lai, hậu vận là bài học đầu đời của những người dân nơi đây. Anh nhớ, ở phương Đông, để tặng người tình, thay vì nữ trang, người ta tặng chim, những con chim quý và hiếm.

+ Ở lần này, những chuồng chim hoàn toàn trống trơn, cánh mở toang, và bên cạnh đó, một người đàn bà – “Đôi mắt nàng không có dáng phương Đông, và khuôn mặt nàng là khuôn mặt của một cô gái trẻ”. Như lời Nguyên Mộc về những con chim “chúng sẽ quay về đây, đâu dễ gì cưỡng lại sự cám dỗ lôi kéo ta quay về” và hình ảnh khi Hervé rời làng, “những cánh cửa đã được khép kín, bên trong, hàng trăm con chim bay qua bay lại, như núp tránh trời cao” là bức ngụ ngôn lớn về cuộc đời. Nhân sinh như cánh chim bay, mỏi cánh sẽ trở về chốn nghỉ. Tự do vẫy vùng đôi khi không phải là ước muốn ở hồi kết mà đó sẽ là sự cám dỗ của một chốn trở về. Nhưng chốn trở về của con người đôi khi không phải thứ ta đã sở hữu, không phải nơi mà ta đã ở mà là những gì ta đang trải qua, lộng lẫy mà hư ảo, như chính mối tình của Hervé và người thiếu phụ

Hình ảnh đêm tình:

+ Ngay trong đêm, nàng đến với một cô gái trẻ, xa lạ, một người phương Đông. Nàng đặt bàn tay anh lên đôi tay của cô gái trẻ để rồi đi như chạy.

+ “Đêm hôm ấy, trong căn phòng không có ánh sáng, anh cảm nhận cái đẹp của thân thể nàng […] anh làm tình với nàng hàng giờ … để cho nàng dạy anh sự chậm rãi, khoan thai mà tới bây giờ anh không biết. Trong bóng tối, thực không hề gì làm tình với nàng, và không làm tình với nàng”. Nàng dâng hiến mình cho Hervé, qua một người khác. Anh, cũng trong thân thể khác, cảm nhận thấy vẻ đẹp của nàng – cái đẹp của lụa, êm dịu, chậm rãi, cái đẹp mà anh chưa từng biết, chưa từng thấy.

* Tâm trạng của Hervé:

Khi ở Nhật:

+ Trước và trong đêm tình, anh mê đắm người thiếu phụ Nhật Bản.

+ Sau đêm tình, vào buổi sớm, Hervé biết lãnh chúa và đoàn tùy tùng đã ra đi. Tất cả đã ra đi. Băng qua ngôi làng, anh thấy cánh chim bay “đâu có mục đích nào khác hơn là lạc một lối về”, như chính anh đã lạc bước trên cuộc đời của chính mình.

Khi trở về Pháp:

+ Anh mệt mỏi vô hạn, nóng nảy, vội vã đến nỗi Hélene phát sợ. Anh băng qua những tháng ngày chán nản, khép kín, với những dày vò và ám ảnh trong tâm trí.

+ Hervé quyết định xây một công viên, với những hình vẽ kì quặc, với ao ước dựng lên một cái lồng chim của nước Nhật xa xôi, nơi đã vĩnh viễn chôn vùi trái tim anh.

* Mạch truyện kế tiếp:

– Lặng lẽ và trầm lắng như một bức tranh tĩnh vật nhưng chồng xếp bao mạch ngầm sự sống, Lụa bung nở bao ẩn ức trong tâm hồn Hervé để rồi ngân lên giai điệu cuối cùng. Chuyến đi lần thứ tư đến Nhật, băng qua hồ Baikal: ông thánh với niềm hi vọng mong manh về tình yêu và cuộc đời đã vĩnh viễn khép lại. Đến tận phút cuối cùng, Hervé cũng chỉ nhìn thấy lụa – những tấm vải tuyệt đẹp, hàng ngàn sắc màu, cam, trắng, bạc, màu đất son – nhưng không một khe hở. Hàng triệu con tằm chết. Anh cũng đã chết. Anh hiểu “đó là một nỗi đau khổ lạ lùng, chết vì luyến tiếc não nùng một cái gì mà ta chưa bao giờ sống qua”.

– Tất cả cứ đằm lại cho đến giai điệu của lá thư cuối cùng ngân lên, lá thư mang trong mình vẻ đẹp của lụa – cái đẹp đằm thắm, nồng nàns và cao thượng nơi người phụ nữ Á Đông giao hòa trong người phụ nữ phương Tây khát khao sở hữu sức quyến rũ của những người phụ nữ phương Đông. Bảy trang lụa, bảy dòng tâm sự dồn nén dưới vỏ bọc của người khác giúp Hélene biểu lộ những khát vọng lưu luyến: được yêu, được sở hữu, dù chỉ một lần, dù chỉ trong hình dung, để mối tình của mình sống mãi, bất diệt.

2. Nghệ thuật kể chuyện:

– Cốt truyện được đẽo gọt tinh tế, Lụa gói gọn trong những chương sách gọn nhẹ như một bài thơ.

– Tác phẩm trần thuật theo ngôi thứ ba, điểm nhìn người kể khách quan với dung lượng ngắn gọn.

– Thoại ít, những lời bình, ngôn ngữ nhân vật dường như được cô đọng đến tận cùng mà vẫn đủ sức truyền tải những vấn đề đầy ý nghĩa của tình yêu, như tình yêu là sự bình đẳng của cuộc sống, và với Lụa, kẻ thù của tình yêu là không gian và văn hóa. Không gian xóa mờ những khả năng để gắn kết, văn hóa chia cách cơ hội để cắt nghĩa, để giải đáp. Ngắn gọn, hàm súc, không cần ngôn từ, không cần đối thoại, tình yêu và nỗi ám ảnh của nó trong Lụa vẫn day dứt suốt mấy chục năm cuộc đời của các nhân vật. Đó chính là nghệ thuật kể chuyện quyến rũ của Alessandro Baricco.

Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết nội dung, nghệ thuật của đoạn trích

– HS tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

– GV nhận xét, bổ sung, hướng dẫn HS chốt ý.

III. Tổng kết:

1. Nội dung:

Lụa là một câu chuyện tình có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc: ca ngợi cuộc sống, ca ngợi tình yêu giữa người với người, ẩn trong tác phẩm là sự khám phá mạnh mẽ của nhà văn về con người, với những cung bậc tâm trạng phức tạp và những ẩn ức tâm lí đầy bí ẩn.

– Tiểu thuyết không chỉ có ý nghĩa nhân đạo mà còn có ý nghĩa hiện thực sâu sắc, đằng sau tình tiết một chuyện tình chính là khung cảnh của cuộc giao thoa văn hóa Á – Âu.

2. Nghệ thuật:

– Ngôn ngữ cô đọng, ngắn gọn, thấm đẫm chất thơ.

– Nghệ thuật kể chuyện mới lạ.

– Giọng văn nhẹ nhàng, trầm lắng.

  1. Củng cố:

– Nắm được vẻ đẹp của những trạng thái tâm lí phức tạp và khát vọng tình yêu của các nhân vật trong đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung.

– Hiểu đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.

  1. Hướng dẫn chuẩn bị bài về nhà:

– Vận dụng phương pháp đọc hiểu theo đặc trưng thể loại để đọc hiểu các tác phẩm tiểu thuyết nước ngoài: Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey); Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ (Svetlana Alexievich).

– Nộp lại sản phẩm đọc hiểu bằng văn bản.

 

  1. Học sinh thực hành đọc hiểu tác phẩm văn học

 

Đọc hiểu: THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

(Thơ – Văn bản phụ lục 4)

                                             Bà Huyện Thanh Quan

  1. Tìm hiểu chung:
  2. Tác giả:

1.1. Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh (1805 – 1848), là một nhà thơ nữ trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.

+ Bà là người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây. Thuở nhỏ, bà được học hành và là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích. Lớn lên, lấy chồng, chồng bà từng làm Tri huyện Thanh Quan (tỉnh Thái Bình) nên bà còn được gọi là Bà Huyện Thanh Quan.

+ Dưới thời vua Minh Mạng, bà được mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi. Sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến khi qua đời.

– Con người: Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ học thức, tài ba, đại diện cho tinh thần tao nhã của giới Nho sĩ đương thời.

1.2. Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm chính: Qua đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Chiều hôm nhớ nhà..

– Đặc điểm sáng tác:

+ Thơ bà phần lớn viết về thiên nhiên, đậm đà lòng nhớ thương quá khứ vàng son đã một đi không trở lại. Ý ngụ đó đã khiến các nhà phê bình văn học sau này xếp bà vào những thi sĩ có khuynh hướng tình cảm và có tính cách “hoài cổ”.

+ Khác với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan có xu hướng Đường hóa thơ Đường. Hình ảnh và ngôn ngữ thơ bà không giản dị, thuần Nôm mà trang trọng, cổ điển và đằm thắm, đầy ý nhị.

– Vị trí văn học sử: Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ sĩ tài hoa bậc nhất của văn học Việt Nam.

  1. Tác phẩm:

2.1. Cảm hứng chủ đạo: hoài cổ

2.2. Thể thơ: thể Thất ngôn bát cú Đường luật

2.3. Bố cục: 4 phần: đề – thực – luận – kết.

2.4. Giá trị:

– Bài thơ là những tâm sự u hoài của Bà Huyện Thanh Quan về quá khứ vàng son đã một đi không trở lại, qua đó thể hiện tình yêu nước sâu sắc của tác giả.

  1. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Đọc hiểu theo đặc trưng thi pháp – thơ Thất ngôn bát cú Đường luật

  1. Đọc hiểu:
  2. Hai câu đề: Tiếng than về lẽ phế hưng, đổi thay trong cuộc đời:

“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”

Câu thơ đầu:

+“Tạo hóa”: là con tạo, ý chỉ trời đất.

+ “Hí trường”: sân khấu, nơi mua vui diễn tuồng, diễn kịch thời xưa.

+ Hai tiếng “gây chi” vừa là lời trách móc song cũng là lời than thở của nhà thơ về sự vô tình của thời gian, guồng quay của lịch sử đã làm đổi thay bao cảnh vật, bao cuộc đời. Câu thơ là tiếng thở dài ngao ngán của Bà Huyện Thanh Quan, mở đầu cho những tâm trạng, suy ngẫm trong cả bài thơ.

Câu thứ hai:

+ “Tinh sương”: là năm tháng.

+ Từ láy “thấm thoắt” gợi tả sự vận động nhanh chóng của thời gian. Thời gian cứ vận tuần hoàn, mà sự tuần hoàn của nó khiến cho con người không khỏi bàng hoàng, xót xa.

Chốt ý: Hai câu đầu là tiếng than u buồn về sự biến thiên trong cuộc đời của thi sĩ, hé mở cảm xúc chủ đạo của bài thơ.

  1. Hai câu thực: Cảnh hoang tàn của kinh thành xưa:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

Câu đầu: Cảm nhận về sự đổi thay của con người:

+ Xưa kia, nơi mảnh đất đô hội này nhộn nhịp bởi người đi kẻ lại, những xe ngựa rộn ràng, tấp nập. Nhà thơ không kể ra cụ thể đối tượng của những chiếc xe mà chỉ bằng hình ảnh “xe ngựa”, tác giả đã gợi ra được không khí vui tươi, nhộn nhịp của một cuộc sống yên vui, phát triển.

+ Nhưng, đó cũng chỉ là những hồi tưởng của nhà thơ, còn thực tại lại chỉ có “hồn thu thảo” – hồn ngọn cỏ thu tàn úa, gợi ra không khí của sự chia li, của phút giây li biệt. Con người chỉ còn sự cô tịch, lặng lẽ và nỗi nuối tiếc không nguôi.

Câu thứ hai: Cảm nhận về sự đổi thay của kinh thành:

+ Thăng Long trong kí ức của nhà thơ là một mảnh đất tươi đẹp, nơi phồn hoa đô hội, kinh đô của biết bao triều đại với những đền đài, lầu các nguy ca tráng lệ. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi nhà thơ vốn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất kinh thành, thấu hiểu rõ mọi sự phát triển của kinh thành xưa.

+ Giờ đây, những lầu son gác tía, đình đài cũng chỉ còn là “nền cũ” hoang tàn,  u buồn trong “ánh tịch dương” – ánh chiều tà đang dần khuất bởi chiến tranh loạn lạc, bởi sự đổi thay nhanh chóng của triều đại.

Chốt ý: Nghệ thuật đối trong hai câu thực, với hai cặp hình ảnh sóng đôi “xe ngựa” – “lâu đài”, “hồn thu thảo” – “bóng tịch dương” cụ thể hóa cho sự biến thiên của con người và cảnh vật được gợi ra từ trong hai câu đề. Hai câu thơ gợi ra tấm phông nền tàn tạ của bài thơ, thể hiện nỗi niềm hoài cổ chất chứa trong lòng nữ sĩ.

  1. Hai câu luận: Nỗi đau u uẩn về cuộc đời

“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương”

Hình ảnh, từ ngữ:

+ “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”: đá vốn là sự vật thiên nhiên vô tri được đặt trong nghệ thuật nhân hóa, thể hiện trạng thái thách thức với năm tháng, với thời gian.

+ “Nước còn cau mặt với tang thương”: nước cũng là sự vật vô tri được thổi hồn qua nghệ thuật nhân hóa trong trạng thái “cau mặt”, như đau đớn, giận hờn với bao dâu bể của cuộc đời.

+ Các phó từ “vẫn, còn” mang ý nghĩa khẳng định mãnh liệt vào sự bất biến của sự vật thiên nhiên “đá” và “nước”.

Ý nghĩa:

+ Lấy cái bất biến “vẫn trơ gan”, “còn cau mặt” của đá và nước, nhà thơ đã làm nổi bật nỗi đau đớn của mình về sự biến thiên của triều đại. Nỗi đau của con người hòa vào trong nỗi đau của trời đất.   Phép đối chặt chẽ, cách sử dụng, từ Hán Việt (tuế nguyệt, tang thương) tinh tế, đã làm tăng chất súc cảm của vần thơ.

+ Hình ảnh “đá” và “nước” thể hiện niềm tiếc thương của nhà thơ về con người và kinh thành Thăng Long trong một thời vàng son, huy hoàng đã một đi không trở lại. Chốt ý: Bằng phép đối chặt chẽ và việc sử dụng nhuần nhuyễn các từ Hán Việt, Bà Huyện Thanh Quan đã gửi gắm nỗi đau đớn, niềm tiếc thương vô hạn của mình với dĩ vãng đã qua.

  1. Hai câu kết: Cảm xúc hoài cổ:

“Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”

Câu thơ đầu:

+ “Gương cũ”: là trang đời, là lịch sử.

+ “Kim cổ”: là xưa và nay.

+ Câu thơ “ngàn năm gương cũ soi kim cổ”: khẳng định chuyện lịch sử qua hàng ngàn năm soi vào cả quá khứ và hiện tại.

Câu kết:

+ “Cảnh đấy”: là “lối xưa”, là “nền cũ”, “hồn thu thảo”, “bóng tịch dương”, là “đá” và “nước”, những sự vật, cảnh vật quen thuộc của chốn kinh thành xưa.

+ “Người đây”: là nhân vật trữ tình trong bài thơ, ngụ ý cho nữ sĩ.

+ “Đoạn trường”: là đứt ruột, gợi tả một nỗi đau lớn.

+ Câu thơ bộc lộ nỗi đau đớn của nhà thơ trước cảnh hoang phế của kinh thành Thăng Long. Ngàn năm lịch sử chỉ qua trong thoáng chốc, cuộc đời luôn biến thiên, luôn vận động từ xưa đến nay. Nhưng nỗi niềm hoài cổ, tiếc thương cho quá khứ, cho kinh thành xưa vẫn còn nguyên vẹn và là tiếng đau xé lòng của nhà thơ.

Chốt ý: Hai câu thơ là tâm sự hoài cổ được dồn nén đến đỉnh điểm, thành tiếng đau xé lòng của nữ sĩ trong toàn bài. Đồng thời, đây cũng là mạch cảm hứng chủ đạo không chỉ riêng trong Thăng Long thành hoài cổ mà còn ở nhiều sáng tác khác của Bà Huyện Thanh Quan.

III. Kết luận:

  1. Nội dung

– Cảnh tượng hoang tàn, đổ nát, biến động theo năm tháng của kinh thành Thăng Long

– Nỗi đau đớn, xót xa của nhà thơ trước thực tại, qua đó bộc lộ tình cảm tha thiết của nhà thơ với quê hương, đất nước, với quá khứ của dân tộc.

  1. Nghệ thuật:

– Bố cục chặt chẽ, nghệ thuật đối điêu luyện.

– Hình ảnh giàu sức gợi.

– Ngôn ngữ tao nhã, trang trọng, sử dụng nhiều từ Hán Việt mang màu sắc cổ kính.

– Giọng thơ trầm lắng, suy tư.

 

Đọc hiểu: TRANH LÕA THỂ

(Thơ – Văn bản phụ lục 5)

                            Bích Khê

  1. Tìm hiểu chung:
  2. Tác giả

1.1 Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Bích Khê (1916-1946), tên thật là Lê Quang Lương, là một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời tiền chiến. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật.

+ Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho học yêu nước ở tỉnh Quảng Ngãi.

+ Tài năng của Bích Khê bộc lộ khá sớm. Ông làm thơ từ lúc 15 tuổi (1931), theo các thể cổ điển như Đường luật, từ khúc, hát nói, đăng trên các báo Tiếng dân (Huế), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) và Đông Tây (Hà Nội).

+ Năm 1937, ông mắc bệnh lao phổi và phải điều trị và dưỡng bệnh tại quê nhà trong một thời gian dài.

+ Năm 1941, Bích Khê dạy học ở Huế. Năm 1942, bệnh phổi tái phát, ông trở về Thu Xà thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1946, ông mất tại tỉnh Quảng Ngãi.

– Con người: Bích Khê là một tài năng thơ độc đáo, luôn tha thiết với cuộc sống, với tình yêu. Chân thành, đằm thắm đến cuồng nhiệt, ông đã mang đến cho đời bao vần thơ đầy nhục cảm mà hết sức đẹp đẽ, thuần khiết.

1.2 Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm tiêu biểu: Tinh Huyết (1939), Mấy dòng thơ cũ (tập hợp khoảng 100 bài thơ Đường luật đã đăng trên các báo từ 1931-1936)..

– Đặc điểm sáng tác:

+ Thơ Bích Khê mang rõ phong cách Trường thơ Loạn. Tính chất tượng trưng là đặc điểm quán xuyến toàn bộ thơ Bích Khê. Tính tượng trưng tạo nên những ảo giác, những say đắm, đê mê: cái chết rùng rợn thành hương sắc, khoái cảm xác thịt trở thành ghê rợn. Bích Khê sử dụng nhuần nhuyễn bút pháp tượng trưng, pha trộn trong đó là nhục cảm và cuồng loạn với tình yêu, với cuộc đời.

+ Thơ Bích Khê giàu tính nhạc, ngôn ngữ gợi cảm, tinh tế.

– Vị trí văn học sử: Bích Khê là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới và thơ ca hiện đại Việt Nam.

  1. Tác phẩm:

2.1 Vị trí, xuất xứ:

Tranh lõa thể là bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác và cảm hứng chủ đạo trong thơ Bích Khê: khát khao nhục cảm đến điên loạn.

– Bài thơ rút từ tập Tinh huyết (1939)

2.2 Ý nghĩa nhan đề:  Tranh lõa thể: bức tranh thể hiện vẻ đẹp thân thể người phụ nữ, qua đó gửi gắm khát vọng của Bích Khê về cái đẹp – một cái đẹp đầy nhục cảm, say sưa và cuồng nhiệt.

2.3 Giá trị:

– Ca ngợi thân thể của người phụ nữ, tôn vinh con người và cái đẹp.

– Thể hiện ý thức nhân bản của Bích Khê.

  1. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Tranh lõa thể của Bích Khê được đọc hiểu từ góc độ mĩ học, xem xét tác phẩm văn chương ở khía cạnh ý thức thẩm mĩ và hành động thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo. Cái nhìn mĩ học mang lại ưu điểm là vừa thể hiện chức năng xã hội vừa xác định đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm.

  1. Đọc hiểu:
  2. Mĩ học thơ Bích Khê là cái đẹp của thiên tính nữ:

1.1 Hình tượng thiên nhiên – nhục cảm:

*Hình tượng thiên nhiên:

+ Thiên nhiên là nguồn cảm hứng cũng là đề tài quen thuộc trong thơ Bích Khê.

+ Tuy nhiên, thiên nhiên trong thơ ông không chỉ mang vẻ đẹp vốn có của nó mà còn có nét độc đáo riêng: thiên nhiên mang thiên tính nữ, đầy nhục cảm.

* Cảm quan của Bích Khê:

+ Bằng con mắt tương giao, Bích Khê đã cảm nhận mọi sự vật trong sự quyện hòa, nồng thắm ở âm thanh, sắc màu. Thiên nhiên tràn ngập trong giai điệu du dương, trầm bổng của tình ái. Thiên nhiên giao hòa cùng dáng vẻ gợi cảm của con người: “Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ/ Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này”

+ Thiên nhiên hội tụ nơi hình ảnh Trăng. Trăng xuất hiện trong những câu thơ lộng lẫy: “Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc/ Vài chút trăng say đọng ở làn môi”. Trăng trong thơ Bích Khê lại là cái đẹp lộng lẫy, kiều diễm đầy nhục cảm, đánh thức mọi giác quan tình ái mà vẫn đầy thanh khiết, trắng trong. Đó là sự tương giao tổng thể, tương giao giữa thiên nhiên, con người, giữa thơ, họa, nhạc, giữa hương vị và hình sắc, giữa mọi giác quan.

1.2 Hình tượng người thiếu nữ – dục tính:

* Hình tượng người thiếu nữ:

+ Người thiếu nữ là một hình ảnh quen thuộc trong văn học trung đại, nhất là ở phong trào thơ Mới.

+ Là một trong những đại biểu thơ Mới, Bích Khê viết nhiều về vẻ đẹp của thiếu nữ, nhưng đó không phải người thiếu nữ cụ thể, xác định mà là nàng Thơ hóa thân thành thiếu nữ, là cái đẹp của người thiếu nữ nói chung. Bởi thế, gọi người con gái, Bích Khê dùng rất nhiều danh xưng: là “nàng”, là “tiên nương”, là “giai nhân”, rất hoa mĩ và tình tứ: “Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ/ Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?

* Cảm quan của Bích Khê:

Người thiếu nữ trong thơ Bích Khê gắn liền với cái Đẹp, với cái Dâm. Đẹp tức là “lõa thể”, là dục tính. Cái đẹp trong thơ Bích Khê là cái đẹp của thân xác người thiếu nữ, gợi cảm, khiêu dâm, rất lạ và độc đáo:

+ Với cái nhìn tượng trưng, siêu thực, nàng thơ của Bích Khê mang vẻ đẹp của “tiên nương”,“da nàng tuyết điểm”, nhan sắc nàng lên hương, mắt nàng long lanh “ngời châu rung”, “mừa tựa một giai nhân”. Đứng trước “tiên nương”, thi sĩ chỉ biết “run run hãm lại cánh hồn si”, chỉ biết “miên man uống lại mộng quỳnh dao” để chới với, để đê mê cùng với nàng.

+ Yếu tố thiên tính nữ đậm đặc tỏa ra từ cái đẹp tinh khiết, trong trẻo mà gợi dục của người thiếu nữ thi sĩ hằng kiếm tìm và khát khao chìm đắm. Đó là cái đẹp tinh túy của đất trời, một tuyệt tác của tạo hóa “lồ lộ một tòa hoa nghiêm động” mà “bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng”.

– Trên cái đẹp xác thịt đầy dục tính, Bích Khê tập trung vào đôi vú – đường cong nhạy cảm của đàn bà, nét tính nữ độc đáo nhất của người thiếu nữ: “Hai vú nàng ! Hai vú nàng ! chao ôi/ Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng”                        

+ Với Bích Khê, đôi vú của người thiếu nữ là nguồn thơ, dòng “sâm” sáng tạo. Chính vì thế, thi sĩ làm thơ, tức là “nút” vú, nút cho đến no nê, đến tràn trề, cho thỏa mãn tinh chất của người thiếu nữ.

+ Trong cảm xúc ấy, tâm hồn con người được thăng hoa “xuống muôn đợt rồi bay lên tột bực”, được sáng tạo, và nghệ thuật được bừng cháy đến tận cùng.

Chốt ý: Mĩ cảm về thiên tính nữ là nét đặc sắc trong bài thơ Tranh lõa thể nói riêng và thơ Bích Khê nói chung. Với sự khám phá cái đẹp của thiên tính nữ nơi hình tượng thiên nhiên và người thiếu nữ, thơ Bích Khê – dù nói về cái đẹp hình thể, vẻ đẹp dục tính mà không hề khiêu dâm, vẫn trắng trong, ngọt lành và tình tứ. Đó là cái đẹp đầy nhân bản, tôn vinh con người.

  1. Ngôn ngữ, giọng điệu

Ngôn ngữ:

+ Ảnh hưởng bởi lối thơ tượng trưng của Pháp và ý thức về thiên tính nữ, hằn trong Tranh lõa thể là thứ ngôn ngữ thân thể. Nhưng ngôn ngữ của Bích Khê không thô tục, mà trái lại nó trần trụi đến mức nhẹ nhàng, nữ tính. Ông đề cao những khoái lạc xác thịt, ca ngợi mĩ học nhục cảm trong sự tình tứ, luyến láy của vần thơ. Như người thiếu nữ, dáng hình là “dáng tầm xuân”, da nàng “tuyết điểm”, mắt “ngời châu” và “ánh sáng nghê thường”, lệ là “hàng đũa ngọc”, chân là “màu sen ẻo lả”, và nhất là đôi vú – “một tòa hoa nghiêm động” đến đê mê.

+ Ngôn ngữ thơ Bích Khê giàu nhạc tính. Bài thơ như một giai điệu miên man, như nhịp thăng hoa của cảm xúc trong cái lặng ngắm một bức giai nhân kiều diễm, bởi thế giới thơ Bích Khê là sự giao hòa, phiêu diêu của màu sắc, hương thơm và giai điệu hết sức tinh tế. Trong thơ ông, dường như đâu đâu cũng vang lên tiếng nhạc. Tất cả đều vận động theo điệu nhạc: nhạc trong ánh mắt, trong hơi thở con người, từ trái tim, lồng ngực, cả da thịt người con gái cũng đều rung động theo từng cung bậc. Bích Khê chủ động mở rộng biên độ của thơ, đưa cả âm nhạc, hội họa vào trong thơ khiến cho thơ ông không chỉ là thơ mà còn là nhạc, là màu sắc, đường nét, hình khối.

Giọng điệu: say đắm, nồng nàn, thiết tha với cái đẹp của người thiếu nữ, cũng là thiết tha với cái đẹp của cuộc đời.

III. Kết luận:

  1. Nội dung:

– Xuyên suốt Tranh lõa thể là vẻ đẹp của thiên nhiên, của người thiếu nữ mà trong đó tất cả đều chứa đựng yếu tố thiên tính nữ, đánh thức nơi lòng độc giả những rung động thẩm mĩ đẹp đẽ, tinh khôi.

– Bài thơ thể hiện giá trị nhân văn cao đẹp trong thơ Bích Khê.

  1. Nghệ thuật:

– Ngôn ngữ giàu sức gợi, đậm tính nhạc.

– Bút pháp tượng trưng.

– Giọng thơ sôi nổi, rạo rực đầy say đắm.

 

Đọc hiểu: HÔN

(ThơVăn bản phụ lục 6)

Phùng Quán

  1. Tìm hiểu chung
  2. Tác giả

1.1 Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Phùng Quán (19321995) là một nhà văn, nhà thơ Việt Nam, quê tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy (nay là phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên – Huế.

+ Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV.

+ Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội).

+ Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm bằng hai bài thơ “Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” (1957). Khi phong trào này chấm dứt, Phùng Quán bị kỉ luật, ra khỏi quân đội, sau đó mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi.

+ Từ đó đến thời kì Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống.

+ Năm 1988, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó. Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ nổi tiếng như: Hoa sen, Hôn…

+ Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội.

+ Năm 2007, Phùng Quán được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, do Chủ tịch nước kí quyết định tặng riêng cùng với Trần DầnLê ĐạtHoàng Cầm.

– Con người: Phùng Quán là con người ngay thẳng, đam mê văn chương, luôn trung thực, quyết liệt với cuộc đời và say sưa sáng tạo nghệ thuật, bất chấp mọi hoàn cảnh dù là gian khó nhất.

1.2 Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm tiêu biểu: Vượt Côn Đảo (tiểu thuyết, 1955); Tuổi thơ dữ dội (tiểu thuyết, 1987); Trăng hoàng cung (tiểu thuyết thơ, 1993); Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào? (hồi kí, 2007)…

– Đặc điểm sáng tác:

+ Phùng Quán không nổi tiếng từ các tác phẩm văn xuôi mà các bài thơ ông sáng tác trước đó mới thật sự đưa ông lên đỉnh vinh quang của sự nghiệp cầm bút. Thơ ông khắc khoải một niềm đau của người trí thức trước những nhố nhăng của chế độ. Từ tham nhũng tiền bạc đến tham nhũng vị trí quyền lực. Từ ăn cắp, đến giết người nhằm củng cố chiếc ghế và quyền uy. Phùng Quán lên tiếng mạnh mẽ bằng những lời thơ đầy huyết lệ.

+ Thơ Phùng Quán không làm dáng. Ông viết trực diện, khoét sâu, đập mạnh, và vỗ mặt những vấn đề xã hội đang rên xiết. Ông tuyên chiến với hệ thống văn tự nhà nước khi người cầm cương văn hóa hèn nhát lại cố hết sức thúc ép người khác hèn theo. Sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm làm ông nổi tiếng và cũng làm ông kiệt sức. Có điều là, sức càng yếu ông làm thơ càng mạnh. Hình như thơ là liều thuốc duy nhất nuôi dưỡng ông trong cái không khí đậm đặc khủng hoảng niềm tin trong giới văn nghệ sĩ miền Bắc. Phùng Quán viết những bài thơ hoen đẫm mồ hôi của cật lực và mặn chát nước mắt uất ức của kẻ sĩ Bắc Hà…

  1. Bài thơ “Hôn

2.1 Vị trí, hoàn cảnh ra đời:

– Vị trí: Hôn là một trong những bài thơ hay nhất của Phùng Quán, nằm trong hành trang của bao thế hệ chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ được tuyển đi tuyển lại trong hàng chục tuyển tập thơ từ 50 năm nay. Được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism do nhà văn hoá Hữu Ngọc dịch. Bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.

– Hoàn cảnh ra đời:

+ Bài thơ viết năm 1954, khi Phùng Quán 22 tuổi. Bài thơ là một đoạn được trích ra từ Thiên hùng ca dài 10 chương, gồm khoảng một nghìn câu thơ của Phùng Quán. Thiên hùng ca có tựa đề: “Bản anh hùng ca bị mối xông và mười bảy bộ hài cốt…”, kể lại câu chuyện vô cùng lẫm liệt về cuộc chiến đấu và sự hy sinh dũng cảm, khí phách của 17 chiến sĩ cảm tử của Trung đoàn Vệ quốc quân Trần Cao Vân giữa lòng thành phố Huế năm 1946.

+ Điều cực kỳ thiêng liêng và cảm động là bài thơ Hôn viết về tình yêu của người chiến sĩ thật có tên là Phùng Huấn. Đó là lời của Phùng Huấn nói với vợ chưa cưới của mình trước giờ xung trận. Sau đó, Phùng Huấn hi sinh. 46 năm sau, cô gái trong bài thơ Hôn của Phùng Quán mới gặp lại hài cốt người yêu của mình.

2.2 Giá trị nội dung, nghệ thuật

– Giá trị nội dung:

+ Bài thơ thể hiện tình yêu người lính thời chiến. Họ có cảm xúc riêng tư sâu nặng, nhưng họ hi sinh tình cảm ấy để hướng tới điều lớn lao hơn, là tình yêu quê hương, Tổ quốc.

+ Bài thơ là tuyên ngôn cho ý thức dân tộc, hi sinh vì lẽ cao cả. Đây là cảm hứng chung của thời đại, cảm hứng sử thi, hướng về cộng đồng.

– Giá trị nghệ thuật:

+ Thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn, hàm súc

+ Ngôn ngữ thơ giản dị, cô đọng

+ Giọng điệu linh hoạt, khi thiết tha, khi khảng khái, quyết liệt

  1. Đọc hiểu:
  2. Cảm xúc của nhân vật trữ tình:

1.1 Khẳng định tình yêu vững chãi:

– Nhắc đến “trời” là nhắc đến tạo hóa, định mệnh.

– Nghệ thuật điệp cấu trúc, nhấn mạnh sự gắn bó bền chặt trong tình yêu.

=> Nhà thơ khẳng định người yêu của nhân vật trữ tình là người phụ nữ đẹp. Tình yêu giữa họ là một tình yêu “tha thiết”. Họ yêu nhau như một định mệnh. Từ khi sinh ra, số phận đã gắn kết họ thành đôi.

1.2 Tình yêu được đặt trong hoàn cảnh khắc nghiệt:

– Nghệ thuật so sánh:

+ Người ta yêu nhau – hôn nhau say đắm.

+ Anh yêu em – anh phải ra mặt trận.

=> Nhấn mạnh tình yêu của anh và em là cuộc tình sinh ra trong thời chiến, bị chiến tranh ngăn cách. “Anh” dù yêu “em” cũng không thể mãi bên “em”. “Anh phải ra mặt trận”, ra chiến trường, đi theo tiếng gọi dân tộc, thực hiện trách nhiệm của một công dân với Tổ quốc.

1.3 Những trăn trở, suy tư của nhân vật trữ tình trong tình yêu:

– Khẳng định khát vọng muôn thuở của tình yêu: luôn muốn được gần gũi, được gắn bó về thể xác và tâm hồn.

– Suy ngẫm riêng của nhân vật:

+ Không muốn gần gũi, yêu thương khi nước nhà bị xâm lược. Đó là nỗi niềm của người lính: khát khao yêu cháy bỏng, nhưng “anh” không thể yêu “trong tủi sầu” – trong sự ích kỉ cá nhân mà quên đi nhiệm vụ lớn lao.

+ Nhân vật nghĩ đến cái chết như một điều dễ dàng xảy ra với người ra trận. Cái chết có thể đến khi tuổi đời “anh” còn rất trẻ, khi “đôi môi” ấy “chưa bao giờ được hôn”, tức là chưa được cảm nhận tình yêu một cách nồng nhiệt, cháy bỏng. Đó là cái kết buồn cho chuyện tình đẹp đẽ.

+ Người lính chấp nhận cái chết sẽ đến thay vì được “yêu em” và “hôn em bằng đôi môi của một người nô lệ”. Điều đó có nghĩa “anh” sẵn sàng ra chiến trường, hi sinh vì nghĩa lớn cao cả, chứ không chấp nhận một tình yêu riêng tư, cá nhân khi bản thân đang là nô lệ của bọn thực dân. Ở đây, tình yêu Tổ quốc được đặt lên trên hết. Con người ta không thể vì sự ích kỉ, hưởng lợi riêng mình mà quên đi tình hình đất nước, mình đang là nô lệ. Mỗi công dân đều phải mang trong mình ý thức trách nhiệm sâu sắc trước cộng đồng. Đó là lí tưởng hi sinh cao cả của người lính.

  1. 2. Nghệ thuật thể hiện:

– Thể thơ ngũ ngôn hàm súc, ngắn gọn

– Lời thơ, từ ngữ dung dị, tự nhiên, như lời ăn tiếng nói thường ngày. Chính vì sự giản dị ấy mà bài thơ đã dễ dàng đi vào lòng người, trở thành những câu ca mang bên mình của người lính, như một nguồn khích lệ, động viên họ ra chiến trường

– Giọng điệu khi thiết tha, sôi nổi, khi dịu dàng, tha thiết, khi lại khảng khái, quyết liệt

III. Kết luận:

  1. Nội dung:

Hôn là tuyên ngôn về tình yêu của người lính trong những năm tháng kháng chiến. Bài thơ thể hiện khát vọng tình yêu đôi lứa chân thành, mãnh liệt của con người. Nhưng, cao cả hơn đó là tình yêu Tổ quốc, khát vọng tự do cho dân tộc. Cái “tôi” riêng tư đã xóa nhòa, chỉ để lại cái “ta” chung rộng lớn, tạo thành luồng sóng ý thức cộng đồng sâu sắc của một thời đại.

– Bài thơ thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Phùng Quán.

  1. Nghệ thuật:

– Thể thơ năm chữ ngắn gọn, hàm súc.

– Giọng điệu sôi nổi, nồng nàn, bộc lộ cảm xúc thiết tha của nhân vật trữ tình.

– Ngôn ngữ dung dị, gần gũi.

 

Đọc hiểu: NGƯỜI DỆT TẦM GAI

(Thơ Văn bản phụ lục 7)

Vi Thùy Linh

  1. Tìm hiểu chung
  2. Tác giả:

1.1 Tiểu sử, con người:

Tiểu sử:

+ Vi Thùy Linh sinh ngày 4/4/1980 tại Hà Nội, là một nhà thơ nữ của Việt Nam, bút danh ViLi, tốt nghiệp Phân viện Báo chí -Tuyên truyền, hiện hoạt động trong lĩnh vực báo chí.

+ Tuy là thế hệ nhà thơ trẻ nhưng Vi Thùy Linh đã nhanh chóng trở thành một “hiện tượng” trong nền thi ca Việt Nam đương đại. Vi Thùy Linh là nhà thơ Việt Nam đầu tiên được mời thực hiện một đêm thơ riêng tại Paris mang tên “Tình tự Hà Nội”, cũng là nhà thơ đầu tiên thực hiện tour diễn Pháp – Châu Âu. Vi Thùy Linh thuộc lớp những nhà thơ trẻ nhưng sớm nổi tiếng và trở thành một “hiện tượng” trong nền thi ca Việt Nam đương đại

+ Vi Thùy Linh được kết nạp vào Hội  Nhà Văn Việt Nam, trở thành hội viên trẻ nhất ở tuổi 27.

Con người:

+ Lớn lên trong gia đình nghệ thuật. Ông nội và chú là họa sĩ, bố là đạo diễn, Vi Thùy Linh được nuôi dưỡng trong không khí nghệ thuật và là một người đa cảm từ thủa bé.

+ Nền tảng học vấn vững vàng cộng với sự quảng giao đã cho phép nữ sỹ họ Vi nhìn sâu vào những vấn đề của đời sống, mang đến cho thơ mình một giọng điệu

+ Là người có trách nhiệm và quyết tâm theo đuổi nghề văn “Đêm nào cũng cắt bỏ giấc ngủ của mình đến 3 giờ sáng để cặm cụi trên trang giấy. Và phải lao động âm thầm ấy chỉ để chờ một ngày nào đó, mình rất thích cảm giác mình có thể được khóc vì có một người đọc ra một câu thơ của mình..”

1.2 Sự nghiệp:

Tác phẩm tiêu biểu: Khát (1999); Linh (2000); Đồng Tử (2005); ViLi in love (2008)…

Đặc điểm sáng tác:

+ Cô viết nhiều về đề tài tình yêu. cô tình nguyện làm “nô lệ” cho tình lang của mình mà không cầu giải phóng. Ngay cả những đổ vỡ trong thơ Linh cũng sắc lạnh, nhói buốt. Trước Vi Thùy Linh rất nhiều nữ sĩ đã viết về tình yêu như: Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Dư Thị Hoàn… nhưng phải đến Vi Thùy Linh, ý thức về nữ quyền, ái quyền trong tình yêu mới được cảm nhận một cách đầy đầy đủ. Ái quyền luôn là phần mang sức nặng trong toàn bộ thi phẩm của nữ sĩ nhưng khi nói về Vi Thùy Linh, thơ cô không chỉ giới hạn ở những vấn đề thuộc về đời tư mà hơn thế Vi Thùy Linh đã đứng từ góc nhìn bản thể cắt nghĩa đời sống, định giá những hiện tượng.

+ Thơ Vi Thùy Linh nữ tính, cô quan niệm viết thơ để đề cao những vẻ đẹp của đức hạnh, của truyền thống, của ước mơ những đứa con, cùng với việc yêu chung thuỷ một người, một người đàn ông, một mối tình lớn, chứ không cổ suý cho những cái gì mà nó đồi truỵ, bệnh hoạn, bởi vì tôi là một người thờ một chữ lớn, đó là “duy mỹ””.

+ hông lựa chọn những hình thức thể loại truyền thống mà dùng hình thức thơ tự do để truyền tải những ý tưởng của mình. Thể thơ tự do với kiểu ngắt dòng ngắn dài không đều nhau chính là phương tiện đắc dụng hàm tải ý tưởng có phần mới lạ và mang hơi hướng triết học của thơ Vi Thùy Linh.

+ Ngôn ngữ gồ ghề, sắc cạnh

Vị trí: Là nhà thơ tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ sau 1975, gương mặt nổi bật của thơ ca đương đại, một trong những đại diện của trào lưu sáng tác mới trong làng văn học Việt Nam.

  1. Tác phẩm:

2.1 Vị trí, xuất xứ:

– Bài thơ sáng tác ngày 9/7/1998, in trong tập thơ Khát (1999)

– Là tác phẩm tiêu biểu của Vi Thùy Linh, đã đóng góp vào mảng thơ ca về tình yêu trong văn học Việt Nam bức chân dung tình yêu rất mới mang dấu ấn của nhà thơ họ Vi

– Bài thơ được nhạc sĩ Ngọc Đại phổ nhạc thành bài hát nổi tiếng “Dệt tầm gai”

2.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật

Giá trị nội dung:

+ Bộc lộ những cung bậc cảm xúc của tình yêu: nỗi nhớ, sự yếu đuối, chờ đợi, khao khát…

+ Thể hiện tâm hồn nữ tính, giàu cảm xúc của nhà thơ

Giá trị nghệ thuật:

+ Thể thơ tự do không gò bó, cho phép bộc lộ sâu sắc cung bậc cảm xúc

+ Thủ pháp tạo dựng không gian, thời gian để nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng

+ Xây dựng biểu tượng độc đáo, mới lạ về tình yêu: tầm gai

+ Sử dụng dày đặc các động từ, tính từ giàu giá trị biểu cảm

– Điệp từ, điệp cấu trúc câu khắc sâu ấn tượng cho người đọc

  1. Đọc hiểu tác phẩm:
  2. Không gian, thời gian tình yêu của bài thơ:

* Không gian:

– Đại từ nhân xưng “chúng mình” chỉ sự kết hợp giữa “anh” và “em”, thể hiện tình cảm gắn bó, gần gũi giữa hai người yêu nhau.

– Không gian: hai miền. Tình yêu được đặt trong hoàn cảnh chia li, xa cách: “chúng mình ở hai miền”. Điều đó đã dẫn tới những cách trở, cản ngăn trong tình yêu.

– Tâm trạng của cô gái: “Ngày nào em cũng khóc”. Đó là nỗi buồn, nỗi nhớ nhung luôn rực cháy trong lòng người phụ nữ.

* Thời gian:

– Thời gian trong bài thơ được cảm nhận rất dài:  “Ngày dài hơn mùa”, “Ngày nối ngày bằng hi vọng”, “Mỗi ngày dài hơn một mùa”

– Nghệ thuật điệp ngữ “ngày dài” tạo ấn tượng thời gian lặp đi lặp lại, bất biến, diễn tả tâm trạng chán chường của người con gái trước sự trôi chảy của thời gian. Với cô, mỗi ngày không có anh là mỗi ngày giống nhau, buồn tẻ và dài đằng đẵng.

– Ẩn sau dòng thời gian là tiếng thở dài của một tâm hồn mệt mỏi và tuyệt vọng. Ở đây sự chờ đợi tuyệt vọng được gia tăng tỉ lệ thuận với cấp độ thời gian.

=> Không gian, thời gian bài thơ đã dần hé mở người đọc cảm nhận về cảm xúc của nhân vật trữ tình

  1. Những cung bậc cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu

* Tình yêu được gửi gắm qua biểu tượng mới lạ: biểu tượng tầm gai

Nguồn gốc:

+ Biểu tượng tầm gai từng xuất hiện trong câu chuyện cổ tích về nàng Lidơ. Xưa kia nàng công chúa Lidơ xinh đẹp tuyệt trần may áo bằng sợi tầm gai để giải thoát các anh trai mình khỏi lốt chim thiên nga do lời nguyền của mụ phù thủy độc ác.

+ Áo may xong cũng là lúc nàng giải thoát cho các anh, đồng thời đạt được hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời: có được người mình yêu thương.

Trong tác phẩm:

+ Biểu tượng tầm gai xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ, trở thành nỗi ám ảnh không ngừng trong tâm trí người đọc.

+ Tầm gai trở thành biểu tượng cho tình yêu, cho hạnh phúc mà cô gái theo đuổi bằng tất cả sự nhiệt tình và khao khát của mình. Như nàng Lidơ dệt áo tầm gai với những ngón tay rớm máu, nhân vật trữ tình trong bài thơ khao khát dệt nên hạnh phúc bằng niềm vui và cũng bằng cả nỗi buồn, nỗi đau.

* Những cung bậc cảm xúc của cô gái trong tình yêu:

Tình cảm yêu thương nồng nàn:

+ Cách xưng hô “Anh yêu của em” đầy tình cảm yêu thương nồng nàn.

+ Từ ngữ biểu thị trạng thái cảm xúc trực tiếp: “yêu anh cuồng điên”, “yêu đến tan cả em”, “ào tung kí ức”, “rộn lên”.

+ Nhịp thơ gấp gáp, cuồng nhiệt như hơi thở hổn hển trong vầng ngực căng tràn của người phụ nữ đang không thể nào kiềm chế, kiểm soát được cảm xúc yêu đương rất bản năng của mình.

Nỗi nhớ cồn cào, cháy bỏng:

+ So sánh mình “như một tội đồ mong mỏi”, Vi Thùy Linh đã thể hiện hết nỗi nhớ trào dâng tột độ.

+ Những câu thơ tràn ngập khát khao tình yêu và nỗi nhớ mãnh. Đó là tiếng gọi dậy của cảm xúc khát thèm hạnh phúc rất cụ thể và chính đáng của người phụ nữ.

Chấp nhận những niềm vui, nỗi khổ:

+ Có một nghịch lí trong mối tình của cô gái. Cô gái khao khát yêu thương, khao khát hạnh phúc và gồng mình lên để đấu tranh cho hạnh phúc ấy. Nhưng cuối cùng thì cô lại chỉ nhận được “rất nhiều nỗi khổ” bởi chính thứ hạnh phúc cô đang đeo đuổi đã gây ra những đau đớn cho cô. “Người dệt tầm gai” là người đan dệt nên hạnh phúc đời mình, nhưng cô gái  phải nhận lại cả những nỗi đau.

+ Bỏ qua nỗi đau về thể xác khi bị những chiếc tầm gai đâm phải, ở đây còn là nỗi đau trong lòng. “Những sợi tầm gai-không ai nhìn thấy/Gai tầm gai đâm em đau đớn”. Vì khi càng cố gắng khát khao, càng không nhận lại sự hồi đáp, nỗi trống trải, tổn thương càng khắc sâu hơn trong lòng người phụ nữ

Sự thủy chung tuyệt đối:

+ Kể cả khi đau đớn, nhân vật trữ tình ở đây luôn một lòng một dạ hướng về người mình yêu thương. Cô khẳng định “Ngay cả khi Anh làm em thảng thốt/ Em vẫn hướng về Anh bằng tình yêu trọn vẹn của mình”

+ Đó là vẻ đẹp truyền thống trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

Sự chờ mong mòn mỏi gắn liền với niềm khát khao hạnh phúc tột độ:

+ Sự lặp lại của câu hỏi “Dệt tầm gai đến bao giờ?” là biểu hiện của một sự vô vọng. Vô vọng trong tình yêu xa cách của người con gái đối với người con trai, vô vọng trong nỗi cô đơn cùng cực. Bởi vậy câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại thành nỗi ám ảnh

+ Câu thơ “Về đi Anh!” lặp lại hai lần như một lời cầu khẩn tha thiết

+ Hình ảnh ẩn dụ “cài then em” ý chỉ sự khỏa lấp nỗi trống trải, cô đơn của người phụ nữ. Cô mong muốn người yêu của mình xuất hiện, để vơi đi nỗi đau trong lòng, lấp đầy sự cô đơn. Trên hết, nhân vật trữ tình mong muốn nhận được tình yêu trọn vẹn. Người phụ nữ ấy yêu mà như quên mất cả chính bản thân mình, chứng minh một tình yêu nồng nàn, trọn vẹn, tận hiến.

=> Sau Xuân Diệu từng cuống quýt khát thèm “ôm”, “hôn”, “thâu”, “say”, “riết”, “cắn”, “uống” tình yêu … sự xuất hiện của Vi Thùy Linh với ngôn ngữ sắc mạnh bốc lửa, với tiếng yêu táo bạo, nồng cháy hết mình đã đánh thức nhịp đập yêu đương của con người đang yêu. Tình yêu ấy là khát khao hạnh phúc, hi vọng gắn kết đầy nhân bản giữa người với người.

III.Tổng kết:

  1. Nội dung:

– Người dệt tầm gai là một bài thơ tình diễn tả nỗi nhớ và sự chờ mong khắc khoải của người con gái khi yêu, chất chứa cái đong đầy của khao khát yêu đương mê đắm. Các cung bậc cảm xúc của người con gái khi yêu được khúc xạ qua từng câu, từng chữ trong bài. Vi Thùy Linh đã nói thay, nói hộ cho tâm trạng của biết bao người con gái chưa dám bộc lộ. Vì thế, bài thơ là tiếng nói chân thực của tâm hồn người phụ nữ ngàn đời.

– Bài thơ chứa đựng giá trị nhân bản sâu sắc của hồn thơ Vi Thùy Linh.

  1. Nghệ thuật:

– Thể thơ tự do phóng túng, rạo rực trong từng câu, chữ.

– Xây dựng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

– Ngôn ngữ dung dị, táo bạo mà dịu dàng, đằm thắm.

– Giọng điệu quấn quýt, sôi nổi, say mê, thể hiện khao khát cháy bỏng trong tâm hồn con người.

Đọc hiểu: KÉP TƯ BỀN

(Truyện ngắn – Văn bản phụ lục 8)

Nguyễn Công Hoan

  1. Tìm hiểu chung
  2. Tác giả
  3. Tiểu sử, cuộc đời, con người:

– Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977), quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Bắc Ninh (nay là huyện Văn Giang, Hưng Yên)

– Từ nhỏ ông đã tiếp xúc nhiều với ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn, thơ Đường, truyện Nôm. Sinh trưởng trong một gia đình quan lại, Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thấy đầy đủ mọi chuyện của quan trường, được chứng kiến biết bao tấn kịch diễn ra hàng ngày ở phòng nha lại hay trại lính lệ, lính cơ. Những điều này đã ảnh hưởng rất lớn trong các sáng tác sau này của ông.

+ Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm, ông đã phải long đong ở nhiều nơi, nhưng chính điều đó lại giúp ông có điều kiện tiếp xúc với đủ các hạng người trong xã hội, được sống ở nhiều vùng đất, chứng kiến nhiều cảnh đời…tạo nên một vốn sống vô cùng phong phú.

– Nguyễn Công Hoan là người có tinh thần cầu tiến, thường xuyên theo dõi thời sự, thích tìm đọc báo chí tiến bộ như “Việt Nam hồn”, “Người cùng khổ”, sáng tác với ý thức trào lộng mạnh mẽ.

  1. Sự nghiệp sáng tác

– Tác phẩm tiêu biểu:

+ Trước cách mạng: các tập tiểu thuyết “Lá ngọc cành vàng” (1935), “Bước đường cùng” (1938)… và các tập truyện ngắn “Kép Tư Bền” (1935), “Hai thằng khốn nạn” (1937), “Đào kép mới” (1937),…

+ Sau cách mạng: ngoài các tập truyện ngắn và tiểu thuyết, ông còn có tập hồi kí “Đời viết văn của tôi” (1971)

– Đặc điểm sáng tác:

+ Tài năng của Nguyễn Công Hoan kết tinh cao độ ở thể loại truyện ngắn. Chính ở truyện ngắn, vị trí vẻ vang trong văn học sử của ông được khẳng định dứt khoát. Ông dựng truyện linh hoạt, sử dụng nhiều thủ pháp cường điệu, phóng đại, phát hiện ra những mâu thuẫn của cuộc sống, những chân dung biếm họa để cất lên tiếng cười mỉa mai, châm biếm sâu cay.

+ Nguyễn Công Hoan thể hiện một cái nhìn mới về xã hội thực dân nửa phong kiến. Nếu như với Nam Cao cuộc đời chỉ là sự chết mòn, chết khi đang sống; Vũ Trọng Phụng “đời chỉ có toàn những sự vô nghĩa lí”, là cái “xã hội khốn nạn”, “xã hội chó đểu”; thì đối với Nguyễn Công Hoan, đời chỉ là “một sân khấu hài kịch, một tấn trò hề lố lắng, giả dối”.

– Vị trí văn học sử: Nguyễn Công Hoan là một trong số những nhà văn đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam 1930-1945. Ông cũng là nhà văn có đóng góp quan trọng trong việc mở đường và phát triển thể loại truyện ngắn hiện đại, đăc biệt là truyện ngắn trào phúng.

  1. Tác phẩm:

2.1 Vị trí, xuất xứ:

– Xuất xứ: nằm trong tập truyện ngắn “Kép Tư Bền” (1935)

– Vị trí: đánh dấu tài năng sáng tác truyện ngắn trào phúng của nhà văn

2.2 Tóm tắt:

Câu chuyện xoay quanh một người đào kép tài hoa, mọi người hay gọi anh là Kép Tư Bền. Anh Tư Bền diễn hay lắm và rất được mọi người yêu thích. Gặp khi bố anh đau ốm, anh nghỉ làm ở nhà chăm sóc. Túng quẫn, anh phải đi vay nợ người chủ rạp hát nơi làm việc. Đến ngày người ta siết nợ, anh không có tiền trả, buộc phải đi diễn để lấy tiền. Trong đêm ấy, anh vừa diễn vừa sốt ruột cho bệnh tình của ông cụ ở nhà nhưng người chủ vẫn buộc anh phải diễn cho xong. Khi vở diễn kết thúc trong tiếng vỗ tay ầm ầm của khán giả cũng là lúc anh nhận được tin bố đã qua đời.

  1. Tác phẩm
  2. Đề tài, cảm hứng

– Đề tài: người lao động bình dân trong xã hội cũ.

– Cảm hứng: châm biếm xã hội, thương xót cho những kiếp người cùng khổ

  1. Giá trị:

Kép Tư Bền phản ánh số phận đáng thương của những thân phận bé nhỏ trong xã hội thực dân nửa phong kiến, luôn bị cái nghèo cái khổ khổ ám ảnh, đày đọa; tố cáo xã hội đồng tiền giả dối, vô lương tâm và bày tỏ sự cảm thông, thấu hiểu của Nguyễn Công Hoan với con người.

– Tác phẩm có giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc.

  1. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

 Đọc hiểu theo đặc trưng thể loại – truyện ngắn.

  1. Đọc hiểu:
  2. Nhân vật kép Tư Bền:
  3. Số phận:

Xuất thân: Xuất thân trong một gia đình nghèo hèn, nhà chỉ có hai cha con nương tựa vào nhau. Tư Bền phải đi làm kép cho các gánh hát, mua vui, làm trò hề cho thiên hạ để kiếm tiền mưu sinh

Biến cố trong cuộc đời:

+ Cha ốm, Tư Bền phải nghỉ hát kép để ở nhà chăm sóc cha, lo liệu thuốc thang cho cha. “Nhưng cái số tiền để dành của một vai kép dần dần cũng đi bài tẩu mã, đến nỗi anh phải đi vay trước của các ông chủ rạp hát ít nhiều”. Nợ nhiều, khiến cho chủ nợ đến siết nợ, buộc anh phải đi diễn để lùi nợ, nếu không sẽ kiện ra tòa.

+ Trong lúc cha mình hấp hối, Tư Bền phải diễn những trò hề, cười đùa với khán giả, anh phải giấu đi nỗi lo của mình. Cuối cùng, khi làm tròn vai diễn cũng là lúc cha anh ra đi, anh không được gặp cha mình lần cuối. Như thế, đằng sau nụ cười, sự hài hước của một anh hát kép là giọt nước mắt khổ tâm của một người con chưa được nhìn mặt cha lần cuối, chưa được chăm sóc cha đến tận hơi thở cuối cùng, chưa làm tròn đạo hiếu. Tư Bền là nạn nhân cho sự thống trị của đồng tiền, của những ông chủ coi đồng tiền là mục tiêu trước mắt. Đó chính là cảnh ngộ chung của những kiếp người bé nhỏ trong xã hội thực dân nửa phong kiến.

  1. Tâm hồn:

Trong quan hệ gia đình: Là một người con có tấm lòng hiếu thảo.

+ Khi cha bị bệnh, anh đã nghỉ hát kép để chăm sóc cha “anh Tư Bền phải rầu gan nát ruột, chẳng thiết đến sự làm ăn”. Bao nhiêu tiền lo thuốc thang cho cha anh đều không nề hà: “Bệnh cha anh càng ngày càng nặng, thuốc thang chữa chạy, nào anh có quản ngại gì”. Khi thiếu thốn, anh bèn đi vay tiền chữa bệnh cho cha. Biết rằng nhận đi diễn anh sẽ được lùi nợ, nhưng anh liên tục từ chối vì lo không có ai chăm sóc cho cha mình.

+ Khi đứng trên sân khấu mua vui cho thiên hạ, anh không ngừng nghĩ ngợi, lo âu cho tình hình của cha: “Lúc anh đang ngồi thừ trong buồng trò, thì anh lại nhận được tin báo nữa, là hiện nay cha anh đã mê đặc, chân tay lạnh cả rồi”, “Anh Tư Bền bỗng ứa hai hàng nước mắt, rồi khóc nức nở: “Cha ơi!”. Anh đau đớn tột cùng khi hay tin cha ốm nắng mà xót xa cho bản thân không được đỡ đần bên canh.

Trong quan hệ xã hội: Là người nghệ sĩ tài năng, hết lòng với nghề nghiệp của mình.

+ Người nghệ sĩ tài năng: Tư Bền “nổi tiếng về cái tài bông lơn, lắm lúc ra sân khấu, chẳng cần nói một câu khôi hài nào, nhưng chỉ nhìn một cái điệu bộ cỏn con của anh ta, các khách quan cũng đủ phải ôm bụng mà cười, vỗ tay đôm đốp”, “hễ rạp nào khéo dùng anh một độ, là cũng đông khách. Cho nên, tối nào bà con Hà thành đọc chương trình hay xem báo, thấy kép Tư Bền đóng vai giễu là cũng nô nức đi xem”. Tài năng diễn hài của Tư Bền đã thu hút đông đảo quần chúng, khiến ai nấy đều hứng thú với buổi diễn của anh

+ Người nghệ sĩ hết lòng với công việc của mình: Gia đình đang có hoàn cảnh riêng, anh vẫn cố nén nỗi đau lại để sống trên sân khấu, hoàn thiện cho thật trọn vẹn vai diễn của mình: “Anh lại phải hò, phải hét phải dằn từng tiếng, phải ngân từng câu, phải làm những điệu bộ, phải cười ha hả”, “người xem hát thì cứ trông thấy anh là cũng đủ cười rồi”

Chốt ý: Tư Bền chính là hình ảnh tiêu biểu cho người lao động thấp cổ bé họng trong xã hội cũ, khốn cùng, cơ cực, vì cái nghèo, vì cái đói mà phải sống khổ đau. Nhưng trong đau khổ, anh vẫn chói ngời bao phẩm chất tốt đẹp, đáng trân trọng.

  1. Nghệ thuật kể chuyện:

Tình huống truyện:

+ Tạo tình huống chứa đầy mâu thuẫn, trái ngang, đối lập giữa hoàn cảnh đáng khóc và tình thế buộc phải cười. Ở đây có sự hòa trộn giữa cái hài hước và cái bi thương. Tư Bền phải pha trò hề cho công chúng, trong khi bản thân anh đang chứa đầy nỗi đau đớn, lo âu cho tình hình của cha mình. “Anh lại phải hò, hét, ngâm, cười, múa, nhảy, để mua gượng lấy những tràng vỗ tay. Cảnh thương tâm của anh Tư Bền, đi đôi với cái bông lơn, cứ diễn ra mãi, mỗi chốc lại càng thương tâm hơn lên”. Điều ấy không một khán giả nào hiểu.

+ Tình huống càng làm tăng thêm cảnh ngộ bi đát của nhân vật và gây ám ảnh cho bạn đọc. Đằng sau vẻ hóm hỉnh, dí dỏm của một anh hát kép là nỗi đau phải kìm nén. Nó chứng tỏ số phận bèo bọt của thân phận nhỏ bé giữa xã hội đồng tiền. Đồng thời, đây cũng là cảnh ngộ của những người nghệ sĩ theo đuổi nghệ thuật chân chính. Họ hi sinh hết mình vì nghệ thuật, song những cay cực chỉ mình họ nhận lấy, không gì bù đắp hết được công lao, đóng góp của họ.

Nghệ thuật khắc họa nhân vật: Xây dựng nhân vật qua ngoại hình, hành động. Ở đây, Nguyễn Công Hoan cũng đã chú trọng đến khoảnh khắc tâm lí nhân vật: “Mà càng thấy vắng bặt tin nhà, ruột anh càng nhàu như dưa, xót như muối”.

Ngôn ngữ, giọng điệu: Nhịp kể nhanh, gấp gáp, xen lẫn giọng điệu khi trào lộng, khi ngậm ngùi, chua xót

III. Tổng kết

  1. Nội dung:

– Bi kịch cuộc đời của những thân phận nghèo hèn trong xã hội xưa.

– Tố cáo xã hội thờ ơ, vô cảm với sự lên ngôi của đồng tiền đã chà đạp lên số phận con người.

– Tác phẩm mang giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng gắn bó với hiện thực, với đời sống con người của nhà văn.

  1. Nghệ thuật:

Truyện thể hiện tài năng trào phúng bậc thầy của Nguyễn Công Hoan

+ Sáng tạo tình huống chứa đầy nghịch lí, mâu thuẫn, hòa trộn giữa cái bi và cái hài

+ Khắc họa nhân vật qua ngoại hình, hành động, lời nói

+ Xây dựng chi tiết đắc địa

+ Ngôn ngữ, lời văn đậm tính trào phúng

+ Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, mang tính trào phúng.

 

 

 

Đọc hiểu: CHIẾC ÁO DÀI

(Tùy bút – Văn bản phụ lục 9)

Tràng Thiên

 

  1. Tìm hiểu chung:
  2. Tác giả:

1.1 Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Tràng Thiên (1925 – 2015), tên thật là Đoàn Thế Nhơn, quê gốc tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, cha là ông giáo Đoàn Thế Cần và mẹ là bà Ngô Thị Cương.

+ Năm 1933, cha mẹ ông mang theo em trai đi Rạch Giá lập nghiệp, Võ Phiến ở lại Bình Định với bà nội, theo học trường làng và trung học ở Quy Nhơn.

+ Năm 1942, ông ra Huế học và bắt đầu viết văn.

+ Năm 1945, ông tham gia bộ đội cho đến năm 1946, ông ra Hà Nội học và năm 1947, ông về làm thuế quan ở Gò Bồi (Bình Định).

+ Năm 1948, ông kết hôn với bà Võ Thị Viễn Phố và dạy học ở trường Trung học bình dân Liên khu V.

+ Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc ở Nha Thông Tin một thời gian rồi chuyển lại vào Quy Nhơn và tiếp tục sáng tác.

+ Sau khi bắt đầu được biết đến, năm 1962, ông sáng lập nhà xuất bản Thời Mới.

+ Năm 1975, ông định cư ở Los Angeles, Mĩ và nỗ lực xây dựng nền văn học Việt Nam tại hải ngoại, xuất bản các tập san Văn học Nghệ thuật từ 1978 đến 1979, từ 1985 đến 1986.

+ Từ năm 1994, ông sống tại Quận Cam, California, Mĩ cho đến lúc qua đời năm 2015

– Con người: Võ Phiến là con người sống chừng mực, nề nếp, có tấm lòng nhân hậu, luôn thiết tha với quê hương, đất nước, với nguồn cội dân tộc Việt Nam.

1.2 Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm chính: Giã từ (Tiểu thuyết, 1965), Mưa đêm cuối năm (Truyện ngắn, 1958), Thương hoài ngàn năm (Truyện ngắn, 1962), Đất nước quê hương (Tùy bút, 1973), Chúng ta qua cách viết (Tiểu luận, 1973)….

– Đặc điểm sáng tác:

+ Sáng tác của Võ Phiến thể hiện niềm thiết tha với quê hương, với dân tộc qua việc khám phá tâm hồn của những người dân tầm thường, quê mùa trong chiến tranh; từ sự khai thác, khảo cứu những giá trị văn hóa trường tồn trong các sự vật bình yên nơi quê nhà như tà áo dài, cái võng, chiếc nón lá, hay thậm chí là hũ mắm, hạt trà, bánh tráng… Ông tìm về phần tinh túy nhất của quê hương, mùi dân tộc của những đứa con xa xứ đang hồi cố lại quê nhà.

+ Tài năng Võ Phiến nổi bật trong thể tài tùy bút. Ông soi chiếu những kinh nghiệm sống, khả năng quan sát và trường liên tưởng của mình trong các sự vật, sự việc mà ông gặp, ông nghe, ông thấy để vẽ nên bản sắc dân tộc bằng một giọng văn hóm hỉnh, dí dỏm đầy sâu sắc.

– Vị trí: Võ Phiến là một tên tuổi nổi bật của văn học miền Nam Việt Nam, là người đặt nền móng cho văn học Việt Nam tại hải ngoại, một trong những cây bút văn xuôi xuất sắc của văn học hiện đại Việt Nam.

  1. Tác phẩm:

2.1 Vị trí, xuất xứ:

Chiếc áo dài là tùy bút trích trong tập Quê hương tôi (2013) (Tái bản từ tập Đất nước quê hương, 1973) của Võ Phiến.

– Tác phẩm là bài đầu tiên của tập tùy bút, đứng ở vị trí mở đầu cho những khám phá, khảo cứu của nhà văn về quê hương đất nước, thể hiện phong cách tùy bút của Võ Phiến.

2.2 Bố cục: 2 phần

– Phần 1: Từ đầu đến “Nó êm thấm, đẹp đẽ hơn những đường lối thống nhất bằng vũ lực biết bao!”: Vị trí của chiếc áo dài.

– Phần 2: Đoạn còn lại: Giá trị của chiếc áo dài

2.3 Giá trị:

Chiếc áo dài khai thác vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam ở trang phục dân tộc: áo dài, nhìn nhận tà áo dài từ các khía cạnh văn hóa – phong tục, ở trong và ngoài nước, qua đó khái quát hồn cốt quê hương, bộc lộ tình cảm gắn bó của nhà văn với đất nước.

– Tác phẩm thể hiện đặc sắc tùy bút của Võ Phiến ở giọng điệu, lời văn, cách sử dụng từ ngữ…

  1. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Tùy bút Chiếc áo dài được đọc hiều từ góc độ thể loại – tùy bút. Tùy bút là một thể thuộc loại hình kí, “qua việc ghi chép những con người và sự kiện cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại” [tr380, Từ điển thuật ngữ văn học]. Sức hấp dẫn của tùy bút là ở trình độ quan sát, nghiên cứu sự vật, hiện tượng, khám phá những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc của nó trong quan hệ với môi trường xung quanh; ở sự phóng túng trong lối viết mà vẫn thân mật, hấp dẫn và đầy ý vị.

  1. Đọc hiểu:
  2. Vị trí của chiếc áo dài:

*Ở nước ngoài:

– Võ Phiến đã khai thác chiếc áo dài trong những quan sát về con người, sự việc có thực tại hải ngoại:

+ Ông Mĩ tịt trong đại hội thường niên các nhà sinh vật học Hoa Kì tại tiểu bang Vermont chỉ biết có một câu tiếng Việt: “áo zài”.

+ Trên sân khấu trình diễn tại hội chợ Osaka (Nhật), giữa hàng trăm cô gái đến từ các quốc gia khác nhau, các thiếu nữ Việt Nam vẫn được đặc biệt chú ý bởi tà áo dài.

+ Đầu năm 1970, trong chuyến viếng thăm của phái đoàn Việt Nam tại Hàn Quốc, ông Shin Bum Shik – tổng Trưởng Thông tin và Văn hóa Đại Hàn bấy giờ – có tặng cho mỗi người một món quà đem về làm quà cho vợ: “thứ hàng rất mỏng và dài đúng 2m80”

Ý nghĩa: Khai thác chiếc áo dài trong con mắt của những người nước ngoài tại hải ngoại, Võ Phiến muốn khẳng định sự đẹp đẽ, lẫy lừng của trang phục truyền thống Việt Nam. Đó là niềm tự hào dân tộc đã được vươn xa đến trên tầm quốc tế.

*Ở trong nước:

– Con mắt tinh tường của Võ Phiến tiếp tục hướng về phía đồng bào Việt Nam, trong sự quan sát những người thiếu nữ dân tộc khắp mọi miền Tổ quốc:

+ Khoảng 30 năm trước, phụ nữ miền Nam chẳng mấy ai mặc áo dài, mà ngày nay “áo dài đã Nam tiến đến mũi Cà Mau”.

+ Trong lễ chịu tuổi của đồng bào gốc Miên, hầu hết các cô gái Miên đều mặc áo dài; ở Ninh Thuận, Bình Thuận, các nữ sinh gốc Chàm mặc thứ áo cổ truyền cải biến rất gần với áo dài.

+ Tác giả tin tưởng một ngày không xa, các cô gái sắc tộc trên Tây Nguyên đều mặc áo dài tha thướt “họ đã dùng bà ba, áo thun, xu-chiêng, sơ-mi… Họ sẽ tiến đến áo dài là cái chắc”.

Ý nghĩa: Khai thác chiếc áo dài trong cách ăn mặc của các cô gái Việt Nam, nhà văn đã thể hiện niềm tin vào sự gắn kết, quyện hòa của người Việt trên khắp mọi miền. Họ gặp gỡ nhau trong “đề tài ăn mặc”, trong “chuyện áo chuyện xống”, họ thắm thiết nên tình cảm, nên văn hóa Việt Nam hơn là những trang văn hoa mĩ. Nhà văn khẳng định “thiết tưởng áo dài có một đóng góp không nhỏ vào việc làm nồng nàn thêm tình cảm dân tộc”, “chúng ta tin mạnh ở sự thành công của cuộc thống nhất đất nước bằng chiếc áo dài”.

Chốt ý: Nghiên cứu vị trí của chiếc áo dài ở trong nước và hải ngoại qua các sự kiện, con người, Võ Phiến thể hiện niềm tin vào vẻ đẹp của tà áo dài, vào sức mạnh gắn kết của nó trong sự vận động của lịch sử.

  1. Giá trị của chiếc áo dài:

* Áo dài – vẻ đẹp của vóc dáng Việt:

– Áo dài theo sát những thân hình tuyệt mĩ, tôn lên vẻ đẹp linh động, uyển chuyển của người con gái. Nó làm cho thân thể con người dù nặng nề, cục mịch cũng hóa ra thanh thoát, duyên dáng.

– Đây là giá trị cơ bản của chiếc áo dài, là yếu tố khiến áo dài Việt Nam “ăn đứt” trang phục của các đối thủ quốc tế, thắng lớn ở trong và ngoài nước. Tác giả đã vận cả lời nói của nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm để thể hiện giá trị của chiếc áo dài: “Do nó cho thấy gió”.

* Áo dài – vẻ đẹp của tâm hồn Việt Nam:

– Áo dài không chỉ thể hiện vẻ đẹp của vóc dáng Việt mà hơn hết, nó còn là sự hiện diện của tâm hồn Việt Nam, văn hóa Việt Nam:

+ “Thân người là đẹp, nhưng thứ y phục chỉ nhằm khai thác cái đẹp của thân người thì rõ ràng là tục. Trang phục là văn hóa, văn hóa là một cố gắng cải biến thiên nhiên”.

+ Tác giả so sánh áo dài Việt Nam với mini-jupe của phương Tây và kimono của người Nhật để khẳng định: áo dài Việt Nam là một sự dung hòa giữa tự nhiên và văn hóa, nó tục mà thanh, táo bạo mà duyên dáng, ý nhị, bộc lộ tâm hồn Việt nhẹ nhõm, luyến láy, dịu dàng.

– Áo dài là trang phục của hội hè, của những niềm vui mà người Việt “tự thưởng cho mình bên cạnh những lao tác nhọc nhằn”, nó biểu trưng cho “cái văn vẻ trong cuộc sống tinh thần của dân tộc, sau khi đã nỗ lực củng cố cuộc sống vật chất”.

– Áo dài là dấu hiệu cho “sự tăng cao của mức sống” và “sự thuần hóa của nếp sống” Việt Nam.

Chốt ý: Áo dài có một vị trí quan trọng ở trong nước và quốc tế. Bằng con mắt quan sát tinh nhạy kết hợp với trường liên tưởng mạnh, Võ Phiến đã nêu cao những giá trị quyết định vị trí của chiếc áo dài trong dòng chảy của thời gian. Đó là giá trị văn hóa, giá trị xã hội mà nó gợi nên.

  1. Nghệ thuật:

– Cách viết: phóng túng, tự nhiên và hấp dẫn, đi theo mạch vận động của tư tưởng chủ đạo: tôn vinh tà áo dài – hồn cốt văn hóa của dân tộc. Tác giả đã đan xen nhiều lời kể, lời cảm thán và những lời bình giá của chính mình, của các nhân vật trong các sự kiện có thực, khiến cho bài tùy bút như một cuộc đối thoại bè bạn đầy thanh nhã và ý nhị. Như khi nói về áo dài trong hội hè, tác giả lại liên tưởng, bình luận đến bài ca dao của Phú Yên ngày trước để khẳng định áo dài chính là dấu hiệu cho sự phát triển của đời sống con người.

– Ngôn ngữ: tự nhiên, thân mật có chút suồng sã của đời sống hàng ngày, kết hợp với lối viết cách điệu nhiều khi độc đáo. Như khi bình về món quà của ông Shin Bum Shik, Võ Phiến nói: “Chời ơi”, ông Shin Bum Shik am hiểu cái món “văn hóa” Việt Nam ấy sao mà kỹ quá vậy?”

– Phương pháp khảo cứu:

+ Nhà văn đã vận dụng nhuần nhuyễn thủ pháp so sánh, so sánh áo dài với trang phục truyền thống của các nước khác, so sánh áo dài trong sự vận động của Việt Nam mấy mươi năm để tạo nên sự khảo cứu sâu sắc, toàn diện về tà áo dài.

+ Tác giả kết hợp so sánh với bình luận về vị trí, giá trị của chiếc áo dài, khẳng định tầm vóc của nó trong lịch sử.

III. Tổng kết:

  1. Nội dung:

Chiếc áo dài là sự khám phá về vẻ đẹp và nét độc đáo của văn hóa dân tộc qua trang phục truyền thống: áo dài, khẳng định sức mạnh và giá trị của nó đối với con người Việt Nam và nhân loại.

– Qua bài tùy bút, Võ Phiến bộc lộ tình cảm gắn bó thiết tha với quê hương, niềm tự hào với nguồn cội trong những gì bình dị, thân thương nhất.

  1. Nghệ thuật:

– Lối viết phóng túng mà tự nhiên, hấp dẫn.

– Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi với đời sống hàng ngày

– Giọng điệu dí dỏm, hồn nhiên.

 

 

Đọc hiểu: BAY TRÊN TỔ CHIM CÚC CU (trích)

(Tiểu thuyết – Văn bản phụ lục 10)

Kenneth Elton Kesey

  1. Tìm hiểu chung:

1.1 Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Kenneth Elton Kesey (1935 – 2001) là một nhà văn người Mĩ, sinh ra ở thành phố La Junta Colorado, lớn lên ở bang Oregon (Mĩ).

+ Khi còn nhỏ, Kesey đặc biệt yêu thích các hoạt động ngoài trời như săn bắn, câu cá và tham gia nhiều môn thể thao như đua xe, đấu vật, đấm bốc, bóng đá…Không chỉ có vậy, Kesey còn bộc lộ năng khiếu ở lĩnh vực sân khấu khi tham gia diễn xuất, viết hài kịch ở trường.

+ Sau khi tốt nghiệp trường Báo chí (Đại học Oregon), ông nhận được học bổng của Đại học Stanford năm 1958 nhưng chỉ ít lâu sau đó, ông dừng học, tham gia phong trào phản văn hóa.Ken Kesey đã theo học khóa sáng tác do tiểu thuyết gia Wallace Stegner giảng dạy và bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình.

– Con người: Ken Kesey là một con người phóng khoáng, tự do. Ông tự coi mình là một mắt xích giữa Thế hệ Beat trong thập niên 50 và văn hóa Hippie trong những năm 60 của thế kỉ XX ở Mĩ.

1.2 Sự nghiệp sáng tác:

– Tác phẩm chính:One flew of the cukoo’s nest (1962), Sometimes a Great Notion (1964), Caverns (1989), Sailor Song (1992)…

– Đặc điểm sáng tác:

+ Giá trị cốt lõi trong sáng tác của Ken Kesey là tinh thần Hippie và khát vọng tự do. Với ông, “sự tự do tồn tại để sáng tạo sự sống một cách hoang dại như chúng ta có thể tưởng tượng”. Trên tinh thần ấy, sáng tác của ông là những khúc ca mãnh liệt về tự do mang trong mình phẩm chất của người da đỏ,“những người ăn nấm, ngồi và nhìn chằm chằm vào mặt biển cho tới khi bãi biển nhìn lại họ”, bằng một giọng văn hóm hỉnh, đầy chất giễu nhại.

+ Sự nghiệp sáng tác của Ken Kesey có thể được gói gọn trong nhận định của tác giả Robert Stone trên New Yorker: “Trong suốt cuộc đời mình, Ken Kesey mải miết kiếm tìm những điều huyền ảo, đưa chúng đến với thế giới thực và biến chúng thành câu chuyện thuần khiết từ chính những gì mà chúng được tạo ra”.

– Vị trí văn học sử:Ken Kesey là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của thế kỉ XX.

  1. Tác phẩm, đoạn trích:

2.1.Tác phẩm:

2.1.1 Vị trí, xuất xứ:

Bay trên tổ chim cúc cu là một kiệt tác văn chương, có mặt trong danh sách những cuốn sách vĩ đại nhất của thế kỉ XX, có sức mạnh của một tác phẩm không thể bị lãng quên.

– Ra đời năm 1962, lấy cảm hứng từ chính những trải nghiệm thực tế của Ken Kesey trong một bệnh viện tâm thần ở California, tác phẩm đã viết về thế giới người điên, về cuộc sống và tâm lý của những người trong bệnh viện tâm thần để qua đó đặt ra những câu hỏi lớn lao về tự do và khuôn khổ, về hạnh phúc và bất hạnh… của con người trong cuộc đời.

2.1.2 Tóm tắt:

Mọi chuyện ở một trại tâm thần đầy quy tắc dường như đảo lộn khi McMurphy xuất hiện. Bất trị như một chú ngựa hoang, hắn vào viện để trốn án lao động khổ sai và không hề có ý định cứu thế. Nhưng trong những ngày ở đó, cái phần tốt đẹp yêu tự do, thích tung hoành của hắn đã làm nên một cuộc cách mạng, tạo ra mối liên kết giữa những thân xác yếu ớt, những trí não bị tổn thương, nhắc họ nhớ về cá tính, về chính mình hoặc về những kẻ đã – từng – là – mình. Sự nổi loạn đó thách thức trật tự đạo đức giả mà Liên hợp áp đặt qua đại diện là Y tá Trưởng Ratched. Cuộc chiến bất cân sức bắt đầu. Và rồi, đúng như cuộc đời, kẻ yếu đã không thể thắng. McMurphy chết dữ dội như cách hắn sống, nhưng Liên hợp không giết được hắn, cũng không thể bắt hắn sống theo cách nó đặt ra. Cái chết của hắn gợi dậy sự sống cho những người khác, để họ vẫn nối bước con đường mà hắn đã đi qua.

2.1.3 Giá trị:

Bay trên tổ chim cúc cu là một cuốn sách mạnh mẽ về bản tính của con người, một tiếng gầm phản kháng chống lại các quy tắc xã hội phàm tục để khơi gợi lòng tự do, niềm trắc ẩn trong sâu thẳm tâm hồn con người.

– Tiểu thuyết mang giá trị nhân đạo sâu sắc.

2.2. Đoạn trích:

2.2.1 Vị trí: Chương 15.

2.2.2Giá trị:

Đoạn trích là bức tranh thu nhỏ của bộ tiểu thuyết, phác họa trung thực những thủ đoạn của hệ thống y tá, hộ lí nơi nhà thương điên; sự yếu ớt gần như điên loạn của những phận người bé nhỏ và hơn hết là sức sống đơn lẻ mà mạnh mẽ, kiên cường của McMurphy. Sức sống ấy đã tạo nên cuộc phản kháng đầu tiên của tinh thần tự do.

  1. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm:

Tiểu thuyết Bay trên tổ chim cúc cuvà đoạn trích được đọc hiểu theo đặc trưng thể loại – tiểu thuyết.

  1. Đọc hiểu đoạn trích:
  2. Những số phận bị tổn thương:

1.1 Hoàn cảnh:

*Thiết bị trị liệu máy phun mù:

-Ở châu Âu thời trước, người ta dùng máy phun mù để ngụy trang trong chiến tranh.

-Giờ đây, máy phun mù đã trở thành một thiết bịtrị liệu. Đó là thiết bị không phức tạp, “một chiếc bơm hút nước và một loại dầu đặc biệt từ hai bể chứa khác nhau, nén chúng lại.. phun ra một đám mù màu trắng, đủ để phủ kín một sân bay trong chín mươi giây” nhưng lại hết sức khủng khiếp.

*Thủ đoạn của hệ thống y tá, hộ lí:

– Mỗi giờ, y tá trưởng lại điều khiển máy phun mù, để lớp sương mù đậm đặc tràn ngập trong phân khoa.

– Sống trong sương mù, con người sẽ hoàn toàn an toàn, sẽ được che chở, nhưng “cũng lẻ loi đến đáng sợ”. Con người hoặc phải căng mắt, cố xé đám sương để nhìn rõ mọi việc, bất chấp đau đớn, hoặc thả mình trôi đi. Trong sương mù, những con bệnh bị lạc lối, bị vô hướng. Và khi đó, bọn hộ lí, y tá dễ dàng bắt họ đi theo ý mình, đến phòng Đột Tử chích điện, hoặc bất kì một nơi nào đó – để chữa bệnh – chúng bảo vậy.

1.2 Các bệnh nhân:

*Lai lịch:Trong cái nhìn tổng thể của tác phẩm, những người sống ở khu bệnh viện đều là bệnh nhân với những hoàn cảnh rất riêng.

– Có người bệnh từ lúc mới sinh ra, như lão Pete – “một bệnh nhân Kinh niên suốt cuộc đời mình”, “điên điên ngây ngây”.

– Có người là bệnh nhân của chiến tranh, như Đại tá Matterson – “một kỵ binh từ hồi Đệ nhất Thế chiến đã liệt”.

– Có những người là sản phẩm lỗi của thời kì trưởng thành, vượt qua năm tháng hoa niên rực rỡ và giờ chỉ còn lại với nỗi chấn thương: Harding – “Chủ tịch Hội đồng bệnh nhân” có “chứng chỉ tốt nghiệp đại học”, “khuôn mặt quá đẹp đẽ đối với một người bình thường”  và “đôi bàn tay quá đẹp .. những ngón tay dài, trắng và mềm”; Billy Bibbit nói lắp, ba mươi mốt tuổi vẫn lang thang trong bệnh viện với “vết sẹo cổ tay vì lưỡi dao cạo” và “đám bỏng vì tàn thuốc lá trên mu bàn tay”; Thủ lĩnh Bromden – một người con lai da đỏ, “điển hình của Mỹ châu tuyệt chủng”, “một cái máy lau nhà cao hai mét và sợ từ cái bóng mình trở đi”…

* Cuộc sống trong nhà thương:

Mục đích: Mỗi người – một hoàn cảnh, một lí do khác nhau nhưng ở phân khoa, họ đều có mục đích chữa trị.

Hiện thực: dù các bệnh nhân cố gắng tự bào chữa rằng “tất cả mọi cuộc bàn cãi, mọi câu hỏi do các nhân viên hoặc bà Ratched đưa ra đều hoàn toàn nhằm mục đích chữa bệnh” thì vẫn không thể ngăn cản họ ý thức rằng: người ta đang cố tình xúc phạm, bóp nghẹt hết thảy những phần danh dự ngây thơ của họ, như với Billy, với lão già Pete:

+ Tại bệnh viện, y tá Trưởng Ratched luôn mở ra các cuộc họp chữa trị, nhưng không phải chữa bệnh như thế nào mà là “những điều vớ vẩn vô nghĩa về chuyện tại sao Billy Bibbit lại nói lắp”. Người ta đã nhạo báng, đã đay đi đay lại những khiếm khuyết bẩm sinh của hắn, hòng khiến hắn nhỏ bé, co rúm lại vì sợ hãi, để dễ bề điều chỉnh.

+ Lão già Pete, điên điên ngây ngây nhưng đã từng có thời làm nhân viên đường sắt, “đánh vật với chiếc đồng hồ để đọc thời gian, vã mồ hôi mới lồng được cúc áo vào khuyết trên bộ đồ đường sắt, kiệt sức mới hoàn thành nổi một công việc mà đồng nghiệp thừa thời gian..”. Dù vất vả nhưng lão luôn cố gắng, chỉ để không bị bỏ rơi, chỉ để mình còn sống, còn có ý nghĩa. Nhưng vào bệnh viện, lão bị vứt ở một xó xỉnh, bị coi như một tấm bị thừa thãi chỉ chờ ngày xe rác hốt đi, trong nỗi mệt mỏi miên man đến tận cùng.

Cách thức tồn tại:

+ Chính vì đau khổ mà để tồn tại trong bệnh viện, những con bệnh “buộc phải khôn lanh”, họ buộc “phải quay mặt đi”. Họ hiểu rằng “một khi có ai đứng lên giúp đỡ kẻ khác, hắn phơi mình ra giữa trời”, tức là hắn gặp hiểm nguy. Họ quay mặt đi trước đồng bạn, trước chính bản thân đang bị kìm nén.

+ Đây chính là điều phi lí đáng sợ nhất của một con người, bởi họ còn là người đấy, song họ lại đã và đang từng ngày đè nén đi cái phần bản năng của mình. Những con người ấy đã buông lơi cho cái bản năng của mình bị mai một. Ngay cái hành vi bản năng để tự bảo vệ mình, họ cũng đánh mất. Dù con bệnh có to lớn, có bẳn tính đến mức nào, thì cũng trở nên vô cùng yếu ớt khi đối diện với lũ y tá, hộ lí còm nhom, gầy nhẳng. Họ chỉ biết lẩn tránh, ngoan ngoãn trong khuôn khổ. Các con bệnh không dám đấu tranh cho quyền lợi của chính mình. Tất cả chỉ còn lại với nỗi sợ hãi. Nỗi sợ lấn át mọi cảm xúc bản năng, biến những con người ấytrở thành những cực nam châm đang đẩy đi chính đồng loại của mình. Thay vì nâng đỡ, đoàn kết, những con người chịu thương tổn ấy lại tách rời và nghi ngại lẫn nhau. Họ đã bị “dắt mũi” và tự “dắt mũi” lẫn nhau. Họ đã tự giết hại chính sự sống của mình.

  1. Tiếng nói tự do đầu tiên

2.1 Nhân vật McMurphy:

*Lai lịch:

– Vốn là một kẻ lang thang vô gia cư, nay đây mai đó trên các lâm trườngrồi vào lính, rồi băng qua không biết bao nhiêu trại cải tạo và nhà tù địa phương.

– Do bị nghi mắc bệnh thái nhân cách, McMurphy được đưa ra khỏi trại cải tạo và gửi đến nhà thương điên để chữa bệnh.

* Tư tưởng:

– Trước khi vào nhà thương: McMurphy là một con người sống phóng khoáng, tự do.

– Sau khi vào nhà thương: tinh thần tự do vẫn sôi sục trong con người hắn, thôi thúc Murphy kháng cự lại những nguyên tắc trói buộc mà bà y tá Trưởng đề ra. Murphy hiểu được, hắn là hắn, một người có lý tưởng trở thành thợ chơi poker, không chấp nhận ràng buộc, “muốn sống ở đâu và sống thế nào thì sống”.

* Hành động:

Với mụ y tá Trưởng và lũ hộ lí:

+ Trước chương 15: Murphy lao vào bệnh viện với một tiếng cười vang dội, “chui vào mọi ngõ ngách của căn nhà tới khi đập vào các bức tường”. Hắn thoải mái nói to, cười to, hát oang oang khắp cả bệnh viện, thậm chí hắn còn bỡn cợt cả y tá Trưởng Ratched vốn nổi tiếng nghiêm khắc và là người điều hành cả phân khoa. Hắn liên tục nghĩ ra những trò mới, thay cho những thú vui tẻ nhạt và nghiêm cẩn của nhà thương, thách thức quyền uy của mụ y tá và lũ hộ lí.

+ Trong đoạn trích: Bất chấp sự ngăn cản của mụ y tá, McMurphy đòi quyền bỏ phiếu về giờ xem ti vi ban ngày. Khi bị mụ bắt bí, hắn chửi và thẳng thắn thể hiện thái độ bất bình của mình: “Chết mẹ đi cho rồi, bà muốn trở mặt bằng cách ấy à?”. Khi không được xem, hắn bỏ các công việc hàng ngày, ngồi trước cái ti vi đã tắt cả tiếng đồng hồ “hắn cứ ngồi vậy, tay chắp sau gáy, chân gác lên ghế, đám khói thuốc lá vòng vèo bốc lên từ dưới vành mũ – ung dung xem ti vi” biểu hiện cao độ cho ý thức tự do vượt mọi khuôn khổ của McMurphy.

Với các con bệnh khác:

+ Trước chương 15: McMurphy vào bệnh viện đã thổi một luồng gió mới đến cho các bệnh nhân. Hắn thắc mắc về những điều phi lí của phân khoa, hắn nghĩ ra các trò mới thay đổi lối sống nhàm tẻ hàng ngày của các bệnh nhân như thú vui bài bạc, thú vui trêu chọc bà y tá. Hắn truyền đến các con bệnh cách cười và lòng can đảm, dám là mình. Tuy nhiên, khi hắn muốn biểu quyết về giờ xem ti vi để được xem một trận bóng, các con bệnh đã không dám đứng lên thể hiện thái độ của mình.

+ Trong đoạn trích: McMurphy một lần nữa yêu cầu biểu quyết về giờ xem đá bóng. Lần này, hắn không để cho các con bệnh lẩn tránh nữa,“tựa như bàn tay lớn của McMurphy khua vào trong sương nắm lấy tay từng người và lôi họ ra lần lượt […] lôi họ ra màn sương tới khi họ đứng”. Khi biểu quyết thất bại, McMurphy đã xung phong bỏ công việc hàng ngày và ngồi xem ti vi – dù đã tắt, khích lệ tất cả các con bệnh đều bỏ việc và ngồi xem ti vi – y như hắn. McMurphy chính là tâm điểm của ý thức tự do và hành động tự do trong tác phẩm nói chung, đoạn trích nói riêng.

2.2 Các bệnh nhân:

* Các chương trước:

– Họ là những người ốm yếu và què quặt, và nhút nhát, thiếu cả cơ sở và niềm tin để trở thành một con người thực thụ.

– Trong phân khoa, các con bệnh không dám thể hiện ý kiến của mình, tất cả đều ngoan ngoãn nghe theo sự sắp xếp và điều chỉnh của mụ y tá.

* Trong đoạn trích:

– Khi mụ y tá bác bỏ yêu cầu bỏ phiếu để biểu quyết xem ti vi ban ngày của McMurphy: các bệnh nhân đã thẳng thắn thể hiện quan điểm của mình với mụ: “Hãy để McMurphy biểu quyết, tại sao lại cấm? Bà muốn đưa ông ta lên khoa điên chỉ vì ông ta yêu cầu được biểu quyết? Xem ti vi vào những giờ khác thì có chết ai?”

– Khi được cho phép biểu quyết: các con bệnh, lần lượt từng người, đều giơ tay lên “tất cả hai mươi người, và họ giơ tay không còn để xem trận bóng mà để chống lại mụ Y tá Trưởng, chống lại phòng điên mà mụ muốn dành cho McMurphy, chống lại tất cả những gì mụ đã nói, đã làm, đã áp bức, đè nén chúng trong bao năm qua”. Hành động này không chỉ khiến mụ y tá, lũ hộ lí sửng sốt mà chính họ cũng ngạc nhiên vì sự can đảm của mình.

– Khi bỏ phiếu thất bại:

+ Lúc đầu, trước công việc được giao, họ vẫn cố gắng hoàn thành.

+ Sau đó, khi thấy McMurphy bỏ việc xem ti vi, từng người một “quẳng giẻ và bàn chải xuống rồi mang ghế lại”. “Mấy chục đứa ngồi thành hàng trước cái tivi đã tắt, hướng mắt vào màn hình đen xì như đang theo dõi một trận đấu thực thụ, còn sau lưng, mụ Y tá Trưởng đang phát điên phát cuồng”. Lần đầu tiên, những con bệnh yếu ớt sẵn sàng và dám hành động vì tự do, bất chấp những mối nguy hiểm về kỉ luật và trật tự sẽ đến.

Chốt ý: Đặt trong sự vận động của cả tác phẩm, đoạn trích chương 15 chính là chương có ý nghĩa quan trọng khi lần đầu tiên, cùng với McMurphy, tất cả các bệnh nhân của phân khoa dám đứng lên chối bỏ trật tự phi lí, can đảm đòi quyền lợi cho chính mình. Hành động ấy đặt nền móng cho những hành động phản kháng tiếp sau của họ, ca lên bài ca bất hủ về lòng tự do trong tác phẩm.

  1. Nghệ thuật trần thuật:

– Điểm nhìn: Với nghệ thuật trần thuật sắc nhọn, Ken Kesey đã phản ánh sâu sắc không khí phi lý, dị dạng của môi trường bệnh viện trong đoạn trích. Nhà văn đã khai thác sự việc từ nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm, để nhận ra tính hai mặt của cộng đồng bệnh viện và cả từng con người. Một mặt, khu bệnh viện gửi gắm những tấm lòng cao cả, những tuổi đời chân phương trong sự nghiệp cứu người và những trái tim đầy ý thức khao khát, đầy ước mong với nhựa sống nóng bỏng ngoài kia. Nhưng mặt khác, nó cũng là nơi con người ta tàn diệt lẫn nhau trong sự ý thức mù mờ về thân phận.

– Ngôn ngữ: tự nhiên, mang màu sắc của đời sống hàng ngày, bình dị, gần gũi, thậm chí có cả những từ tục như “mẹ khỉ”, cách diễn đạt dân dã như lời nói của McMurphy “bà tắt nhạc giùm. Khi bị chơi đểu, người ta có quyền kêu”

III. Kết luận:

  1. Nội dung:

– Đoạn trích phơi bày những thủ thuật tàn ác của nhóm y tá, bác sĩ trong nhà thương điên và tình cảnh đau khổ, nhục nhã mà những bệnh nhân phải chấp nhận, từ đó cất lên tiếng nói tố cáo và cảm thương sâu sắc.

– Tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút giễu nhại đại tài của Ken Kesey.

  1. Nghệ thuật:

– Xây dựng hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi, mang tính khái quát lớn.

– Ngôn ngữ chọn lọc, tinh tế.

– Giọng văn hóm hỉnh, giễu nhại.

 

 

 

Đọc hiểu: CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ (trích)

(Tiểu thuyết – Văn bản phụ lục 11)

                                                                        Svetlana Alexievich

 

  1. Tìm hiểu chung
  2. Tác giả

1.1. Tiểu sử, con người:

– Tiểu sử:

+ Svetlana Alexievich, sinh ngày 31/5/1948 tại thị trấn phía tây Ukraine, trong gia đình cha là người Belarus, mẹ là người Ukraine

+ Lớn lên ở Belarus

+ Bà đã làm phóng viên trong một số tờ báo địa phương trước khi tốt nghiệp từ Đại học Lenin (1972) (bây giờ là Đại học Nhà nước Belarus) ở Minsk và trở thành một phóng viên của tạp chí văn học Neman ở Minsk.

+ Năm 2015, bà được trao giải thưởng Nobel Văn học, vì “đã đặt một công trình kỉ niệm cho những hoạn nạn và dũng cảm trong thời đại của chúng ta”

– Con người: Svetlana Alexivevich là con người mạnh mẽ, nhiệt huyết với con người, với quê hương, khao khát khám phá những góc khuất của lịch sử, những con người bị lãng quên.

1.2. Sự nghiệp sáng tác:

– Các tác phẩm tiêu biểu: Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (1985), Những cậu bé trong quan tài (1991), Bùa mê với cái chết (1994), Lời cầu nguyện Chernobyl (1997), Một thời quá khứ (2013),…

– Đặc điểm sáng tác:

+ Bà là một nhà báo điều tra và nhà văn thể loại văn xuôi hiện thực

+ Là người Belarus nhưng viết văn, làm báo bằng tiếng Nga

+ Bà thường phỏng vấn người dân để lấy làm tư liệu sáng tác, vì thế lời văn của bà rất hiện thực, không quá xa vời, hư cấu. “Phương pháp của bà làm cho những bài văn không hư cấu trở thành những truyện ngắn, trong khi vẫn hoàn toàn trung thành với những sự kiện và lối nói của người được phỏng vấn”

– Vị trí văn học sử: Svetlana Alexievich là nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp nổi tiếng của văn học đương đại thế giới. Bà là người Belarus đầu tiên nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 2015.

  1. Tác phẩm, đoạn trích

2.1. Tác phẩm

2.1.1 Vị trí, hoàn cảnh sáng tác

– Hoàn cảnh sáng tác: Từ những năm 70 của thế kỉ trước, nhà văn, nhà báo Svetlana Alexievich đã đi qua hơn 100 thành phố, thị trấn và các khu dân cư làng mạc để ghi chép và phỏng vấn với hàng ngàn phụ nữ Liên Xô cũ. Họ là những người cứu chữa thương binh, những người cầm súng, những nhân viên dân sự, du kích, những bà mẹ hay cả những cô gái trẻ… Câu chuyện kể của họ là chất liệu giúp Svetlana viết nên cuốn sách. Chiến tranh trong ký ức của phụ nữ không phải là những chiến công anh hùng mà được kể bởi những câu chuyện hết sức riêng tư.

– Vị trí: Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ là cuốn sách khởi đầu cho một chuỗi tác phẩm viết về chiến tranh, khẳng định tài năng của Svetlana Alexievich, giúp bà giành được giải thưởng Nobel Văn học 2015

2.1.2. Tóm tắt

Tác phẩm là toàn bộ câu chuyện về chiến tranh dưới góc nhìn của người phụ nữ, nhân vật chính là những nữ cựu binh Xô Viết từng tham gia cuộc chiến vệ quốc vĩ đại của Nga chống lại Đức quốc xã và các đồng minh trong chiến tranh thế giới thứ hai. Nhà văn đi theo chặng đường ra trận của họ, từ khi họ còn là những cô gái trẻ mới đôi mươi, lạ lẫm với quân đội, cho đến khi họ anh dũng chiến đấu trước bom đạn dữ dội, và cuối cùng là bước ra khỏi cuộc chiến như những nữ anh hùng.

2.1.3. Giá trị nội dung, nghệ thuật

– Giá trị nội dung

+ Tác phẩm là một sự phản ánh mới về chiến tranh, xoay quanh những người phụ nữ tham gia chiến trường. Chiến tranh được nhìn dưới góc độ nhân bản nhất của người phụ nữ, từ những thay đổi lớn về hình thể, khó khăn về giới tính, tâm lí cho đến những hậu quả lâu dài đối với họ, niềm khát khao mãnh liệt của họ về hòa bình.

+ Qua đó, tác phẩm cất lên một tiếng nói phản chiến đầy nhân đạo.

Giá trị nghệ thuật

+ Sử dụng những trường đoạn dẫn mang tính điện ảnh

+ Kết hợp lời kể trực tiếp của các nhân chứng

2.2 Đoạn trích “Đột nhiên tôi thấy thèm sống kinh khủng”

2.2.1 Vị trí: Chương 17, chương cuối cùng của tác phẩm

2.2.2 Giá trị: Đoạn trích đã làm nổi bật nội dung tác phẩm, cho thấy ảm ảnh, hậu quả dai dẳng của chiến tranh cũng như khát vọng hòa bình mãnh liệt của nữ cựu binh Xô Viết nói riêng, nhân loại thế giới nói chung.

  1. Đọc hiểu đoạn trích:
  2. Những kỉ niệm trong chiến tranh của người phụ nữ

* Điểm nhìn:

– Đoạn trích là lời kể chuyện của Tarama Stepanovna Oumniaguina – người được phân công vào vai trò phụ tá, có trách nhiệm cứu sống các thương binh.

– Việc tham gia quân đội không phải do ép buộc từ chính phủ, mà do chính tinh thần tự nguyện của bà, của những cô gái thanh niên tuổi đời còn rất trẻ. Họ hi sinh thanh xuân của mình để đem lại thanh xuân cho đất nước. Nhưng cũng chính sự hi sinh đó khiến họ phải trải qua những thử thách rất lớn, chứng kiến những thảm cảnh của chiến tranh.

* Hiện thực tàn khốc:

– Tất cả các đồ đạc đều thấm máu, đôi giày mềm rách bươm, phải đi chân trần

– Chiến trường Stalingrad ác liệt: “cả một thành phố: những con đường, những ngôi nhà, những căn hầm (…)  Cả cơ thể tôi chỉ duy nhất là một bọc máu mênh mông (…) Mọi thứ đều bốc cháy: trên sông Volga, chẳng hạn, ngay cả nước cũng bốc lửa. Ngay cả về mùa đông, sông không đóng băng, mà bốc cháy. Ở Stalingrad, không một tấc đất nào không thấm máu”

* Kỉ niệm cứu thương của người lính nữ:

– Các thương binh “bị vùi trong các đống đổ nát, các chiến hào, các hầm bị vùi lấp, các hầm ngầm-họ nhiều đến mức tôi không thể tả. Thật kinh hoàng!”

– Người phụ tá được giao nhiệm vụ “chở các thương binh nặng nhất về đến tận Kazan và Gorki bằng tàu thủy, sà lan”. Họ phải chăm sóc những thương binh ấy, “động viên họ bằng một lời thân ái, một nụ cười, phải canh chừng, bảo vệ họ”. Họ đồng thời cũng phải chứng kiến cái chết của các thương binh

Chốt ý: Kỉ niệm ấy đã cho thấy người phụ nữ cũng giống như người đàn ông, họ có thể xông pha nơi chiến tuyến, làm những công việc nặng nhọc mà tưởng chừng họ không thể. Họ đã góp một phần sức lực của mình để làm nên chiến thắng cho Tổ quốc

  1. Những hậu quả chiến tranh để lại với người phụ nữ

* Ám ảnh về cái chết:

– Giữ vai trò phụ tá, người phụ nữ không ít lần chứng kiến cái chết của thương binh. “Cái chết dưới mắt ta (…) Ta vĩnh biệt anh. Nhưng đấy là tất cả sự cứu giúp ta có thể mang đến cho anh. Những khuôn mặt ấy, tôi vẫn còn tất cả trong kí ức. Tôi nhìn thấy lại họ, tất cả những người con trai ấy, tất cả. Bao năm đã qua mà chỉ ước gì tôi có thể quên được một người, xóa đi một khuôn mặt”

– Với cô, trong mỗi cuộc chiến “hễ bắt đầu kể là tôi phát ốm”, “bên trong chỉ có băng giá, mọi thứ đều run lên. Tôi thấy lại và tôi tưởng tượng: những cơ thể nằm đấy, miệng mở ra, họ kêu lên và không thể kết thúc được tiếng kêu của mình, ruột họ tuôn ra khỏi bụng. Trong đời tôi, tôi nhìn thấy những khúc gỗ bị chặt ít hơn là thấy xác người. Và ghê sợ biết chừng nào!”

* Ám ảnh về sự sống:

Phải chấp nhận mùi máu: “Nó bám theo tôi khắp nơi. Tôi giặt quần áo, tôi nấu ăn, nó vẫn ở đấy…Có ai đó cho tôi một chiếc áo sơ mi nữ màu đỏ, thời thiếu vải ấy là của hiếm. Nhưng tôi không bao giờ mặc vì màu cúa nó khiến tôi buồn nôn. Và khi nhìn thấy thịt gia cầm, cô thấy nó “cũng trắng như thịt người”, “mùa hè đến, là tôi có cảm giác chiến tranh sắp nổ ra. Khi mọi thứ bị mặt trời nung nóng lên: cây cối, nhà cửa, nhựa đường, tất cả những cái ấy tỏa một thứ mùi, đối với tôi tất cả đều mùi máu. Tôi có thể ăn hay uống bất cứ thứ gì, không thể xua đi được cái mùi ấy! Ngay những tấm trải giường sạch, khi tôi dọn giường, đối với tôi, ngay cả những tấm trải giường ấy cũng có mùi máu…”

Phải chấp nhận thành kiến:

+ Sau cuộc chiến, người phụ nữ cùng chồng trở về với gia đình. Nhưng cô không ngờ mình “vấp phải sự lăng nhục, tiếng chửi, những lời xúc phạm”. Người mẹ chồng đã không hài lòng về cô, “bà mẹ kéo con trai bà vào bếp và vừa nói vừa khóc: “Con đã cưới đứa nào vậy? Một nữ binh…Con có hai đứa em gái. Còn ai muốn lấy chúng bây giờ?”

+ Khi cô nghe bài hát yêu thích nhất lúc ra chiến trường – bài hát về một cô gái đã ra trận, cô ngay lập tức bị người chị gái của chồng đập vỡ chiếc đĩa hát, ý muốn nói rằng, cô không có quyền gì hết, thậm chí, những người trong gia đình đó đã hủy hết những bức ảnh chiến tranh của cô.

Chốt ý: Giờ đây người phụ nữ phải chiến đấu với một cuộc chiến tranh khác. Đó là cuộc chiến giải thoát khỏi những ám ảnh dai dẳng, khỏi sự kì thị từ cộng đồng, thậm chí còn là cuộc đấu tranh với bệnh tật để đòi lại sự sống… Cuộc chiến ấy cũng vô cùng ác liệt mà họ phải tự chống chọi. Đây chính là hậu quả dai dẳng mà chiến tranh để lại cho người phụ nữ. Svetlana Alexievich đã nhìn thấy nó như một góc khuất mà trước đây người ta lãng quên mất. Điều này ta gặp ở một số tác phẩm văn học sau năm 1975 của văn học Việt Nam, như Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng)…Tất cả đều đã khám phá chiến tranh một cách toàn diện, không còn chỉ ngợi ca cái hào hùng, bi tráng mà còn dám nhìn thẳng vào những mất mát đau thương, hậu quả lâu dài của nó. Vì vậy mà quá khứ mỗi quốc gia và cả thế giới hiện lên toàn vẹn.

  1. Khát khao cuộc sống hòa bình

* Sự ngóng trông về Ngày Chiến thắng: 

– Cứ vào ngày này, giọt nước mắt lại tuôn trào trong lòng người lính cũ, bởi họ nhớ về cái chết, nhớ về một thời bom đạn khói lửa mình đã từng trải qua, sự sống con người đáng giá hơn bao giờ hết.

– Suốt thời gian cuộc chiến tranh nổ ra, người ta chỉ ước mơ về hòa bình, chỉ ước rằng mình sẽ được sống đến lúc đó: “Ôi! Các cậu ơi, miễn là chúng mình sống được cho đến khi đó. Người ta sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu sau chiến tranh! Cuộc sống của họ có được khi đó sẽ hạnh phúc và đẹp đẽ biết bao! Con người sau bao nhiêu đau khổ sẽ biết thương xót nhau. Họ sẽ thương yêu nhau. Nhân loại sẽ thay đổi”. Với người lính, họ không mong gì hơn là cuộc sống tự do, hòa bình, con người sẽ yêu thương nhau thay vì chém giết, hãm hại lẫn nhau.

+ Sau này, khi thời bình, những món đồ chơi chiến tranh như máy bay, xe tăng vẫn được bán rộng rãi, trẻ em rất thích chúng. Nhưng, người lính xưa “không bao giờ mua, không bao giờ đem cho trẻ con đồ chơi chiến tranh”. Một lần, người ta đem đến cho chị một chiếc máy bay cường kích nhỉ và một khẩu tiểu liên bằng nhựa, chị đã ném ngay vào sọt rác. Vì chị hiểu rất rõ về những thứ vũ khí ấy, chúng là thủ phạm gây nên cái chết cho con người, nó quá tàn nhẫn.

* Hình ảnh cánh chim:

– Sau chiến tranh, người lính nữ luôn sợ bầu trời, sợ ngửng mặt lên trời, chị “chỉ sợ nhìn thấy ở đấy một cánh đồng bị cày nát”. Nhưng ở bầu trời ấy “những con quạ châu Âu đã bình an bay qua trên đó…Chim chóc đã chóng quên chiến tranh”.

– Chi tiết cuối truyện để lại ý nghĩa sâu sắc. Cánh chim bay qua bầu trời gợi liên tưởng đến cuộc sống bình yên, không còn khói bom, lửa đạn. Thế giới đã đi qua chiến tranh, đã tìm thấy màu xanh hòa bình của nó, nhưng trong mắt những người từng tham gia chiến trường, họ sống giữa thời bình mà kí ức chiến tranh vẫn ám ảnh mãi mãi. Bầu trời hòa bình ấy như một món quà cho sự hi sinh của họ, thỏa mãn ước nguyện năm xưa của họ. Và cũng chính bầu trời ấy là lời nhắc cho thế hệ về sau biết trân trọng sự sống, biết quý trọng sự tự do, hạnh phúc, hòa bình.

III. Kết luận:

  1. Nội dung:

– Đoạn trích cho thấy kí ức đau thương, kinh hoàng về chiến tranh, sức mạnh và sự hi sinh của người phụ nữ, đồng thời nó còn là tiếng nói khát sống của những người đã từng thử thách mình trước lưỡi hái tử thần. Họ đã truyền tới chúng ta thông điệp về sự sống, cần phải trân trọng sinh mệnh, biết yêu thương nhau nhiều hơn để thôi gây cảnh đổ máu cho nhân loại.

– Đoạn trích mang đậm giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, tiêu biểu cho ngòi bút Svetlana Alexievich.

  1. Nghệ thuật:

– Lối tự sự giàu chất hiện thực.

– Ngôn ngữ tự nhiên, chân thực, đầy hấp dẫn.

– Xây dựng hình ảnh mang ý nghĩa sâu sắc.

 

 

 

 

CHƯƠNG III.  VẬN DỤNG KIẾN THỨC

TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH TRONG LÀM VĂN

 

  1. Phạm vi ứng dụng kiến thức đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình trong làm văn

Việc đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình đối với học sinh chuyên Văn không chỉ giúp cho học sinh mở rộng kiến thức về tác phẩm văn học, kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học, bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ, hứng thú học văn đối với học sinh chuyên Văn. Tuy nhiên, đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình thì học sinh cần phải biết ứng dụng trong thực tế cuộc sống và làm văn. Vấn đề vận dụng kiến thức tác phẩm văn học ngoài chương trình đối với học sinh cũng phong phú, thể hiện đúng năng lực hướng tới trong mục đích đọc hiểu tác phẩm. Học sinh có thể liên hệ từ vấn đề văn học tới vấn đề nghị luận xã hội; vận dụng viết văn, cảm thụ các tác phẩm khác,…

Với chuyên đề này, chúng tôi hướng tới giúp cho học sinh chuyên Văn vận dụng các kiến thức đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình trong làm văn, chủ yếu là ứng dụng với các đề thi học sinh giỏi (câu nghị luận văn học). Ở đây có nhiều cách vận dụng: vận dụng toàn phần (sử dụng cả kiến thức toàn văn bản để làm rõ một vấn đề lý luận); vận dụng một phần (vừa sử dụng văn bản trong chương trình và ngoài chương trình để làm rõ một vấn đề lý luận); vận dụng theo kiểu điểm xuyết, bổ sung, liên hệ (chỉ sử dụng kiến thức tác phẩm ngoài chương trình với một dung lượng nhỏ để làm cho luận điểm sâu hơn, sắc hơn, hấp dẫn hơn trong việc làm rõ đơn vị kiến thức lý luận)

  1. Hướng dẫn vận dụng trong các đề nghị luận văn học

2.1. Vận dụng toàn phần kiến thức tác phẩm ngoài chương trình trong đề nghị luận văn học (kiến thức tác phẩm ngoài chương trình chiếm 90-100%)

Đề 1.   Có ý kiến cho rằng: “Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim

Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên qua tác phẩm ngoài chương trình mà anh/ chị tâm đắc.

Bài làm

Thơ ca bắt rễ từ lòng người và nở hoa nơi từ ngữ. Mỗi tác phẩm là tiếng lòng trìu mến của nhà thơ, kết tinh hài hoà, sâu sắc cái tâm và cái tài của người nghệ sĩ. Bàn về thơ, Chế Lan Viên từng nói: “Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim”

Thơ ca là một hình thức sáng tác văn học đặc trưng, lấy tâm trạng,cảm xúc làm điểm tựa mà cất lên thành những câu có nhạc điệu, được cô đúc trong một thứ ngôn ngữ hàm súc, tinh tế, giàu giá trị biểu cảm. “Thơ cần có hình cho người ta thấy”, “hình” ở đây được hiểu là hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về con người – một trong những yếu tố thuộc về hình thức nghệ thuật để biểu hiện cảm xúc tư tưởng của nhà văn. Hình ảnh được tái hiện trong thơ vừa chân thực vừa sinh động, bắt nguồn từ cái đẹp trong hiện thực đời sống mà vẫn đan xen cái tôi rất riêng của người nghệ sĩ. Nhưng nhà thơ không phải chỉ là một người hoạ sĩ đơn thuần biết sáng tạo nên những bức tranh cầu kì sắc màu mà anh còn phải cho người đọc cảm nhận được cái “ý”, cái “tình” trong thơ. “Ý” có nghĩa là nội dung, ý nghĩa tư tưởng của thi phẩm. Cái “tình” là tình cảm, cảm xúc. Hai yếu tố này kết hợp hài hoà tạp nên một thế giới nghệ thuật đa chiều độc đáo, vừa khiến bạn đọc phải ngẫm nghĩ, suy tư về vấn đề nhà thơ đặt ra trong tác phẩm, vừa rung cảm trong sâu thẳm trái tim con người. Qua đó, nhận định trên cảu Chế Lan Viên đã khẳng định và đề cao yếu tố hình, tình ý trong thơ. Ba yếu tố này có vai trò quan trọng giúp người đọc nhận thấy vẻ đẹp hình thức nghệ thuật và giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, từ đó có sự rung động sâu sắc trong tâm hồn.

Ý kiến trên đã khái quát một cách hàm súc mà đúng đắn đặc trưng thơ về phương diện nội dung và nghệ thuật. Sóng Hồng từng cảm thán rằng: “Thơ là viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt trời”. Cái hay, cái đẹp của văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là phản ánh, biểu đạt thông qua hình tượng nghệ thuật độc đáo. Không có các hình tượng, thế giới tinh thần không thể biểu hiện cụ thể, nhà thơ không thể truyền dẫn thông điệp nội dung, tư tưởng, tình cảm một cách trọn vẹn, ấn tượng đến người đọc. Hơn nữa, thơ ca thuộc phương thức trữ tình, thiên về biểu hiện thế giới chủ quan của con người bằng nhiều cách thức khác nhau nhằm biểu đạt những trạng thái tư tưởng, tình cảm và ý nghĩa phức tạp, đa dạng. Mỗi tác phẩm đều mang một ý nghĩa tư tưởng, thông điệp nhất định đòi hỏi người đọc phải căn cứ vào hình, ý, tình mới cảm nhận được. Hình ảnh trong thơ, có thể là hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người… phải là những hình ảnh đó phải chọn lọc, đặc sắc, có sức khái quát, chân thực, đa nghĩa, nhằm để lại ấn tượng, dấu ấn sâu sắc. Ý, tình trong thơ, những tư tưởng, cảm xúc, tình cảm.., phải trong sáng, tiến bộ, có tính nhân văn, hướng con người tới các giá trị chân – thiện – mĩ. Nói cách khác, “Thơ là sự sung mãn của tình cảm mãnh liệt”. (Ban-zắc), cảm xúc trong thơ phải mãnh liệt, chân thành, nhà thơ phải lựa chọn được những hình ảnh phù hợp để biểu đạt nội dung tư tưởng, cảm xúc một cách tự nhiên, sâu sắc có sức lay động lớn lao. Quả thật, một bài thơ hay, có giá trị phải là sự tổng hoà hết hợp của ba yếu tố: hình, ý và tình; đem đến những rung cảm thẩm mĩ thực sự cho cuộc sống, cho con người.

Và ba tác phẩm: “Thăng Long thành hoài cổ” (Bà Huyện Thanh Quan), “Tranh loã thể“(Bích Khê),  “Xa cách” (Xuân Diệu) là những minh chứng rõ nét cho nhận định trên. Bà Huyện Thanh Quan là một nhà thơ nữ trong thời cận đại của văn học Việt. Thơ bà có khuynh hướng tình cảm với tính cách “hoài cổ”, hình ảnh và ngôn ngữ thơ trang trọng, cổ điển mà đằm thắm. Tiêu biểu có bài thơ “Thăng Long hoài cổ” thể hiện nỗi lòng xót xa, đau khổ của nhà thơ trước sự hoang tàn của cố đô đất Bắc đồng thời cũng tái hiện sự hoài cố về quá khứ tươi đẹp, huy hoàng của mảnh đất này. Còn Bích Khê lại là một nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến, “mang rõ phong cách trường thơ loạn với màu sắc êm dịu, chói chang hay huyền ảo; và âm thanh tạo nên chất nhạc du dương (…) hai nguồn cảm hứng thường trộn vào nhau và hằn rõ là nhục cảm và cuồng loạn” (GS. Nguyễn Huệ Chi). Bài thơ “Tranh loã thể” là bức tranh thể hiện vẻ đẹp thân xác người phụ nữ khỏa thân. Cuối cùng là Xuân Diệu, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới” với cảm hứng dào dạt về tuổi trẻ và tình yêu mãnh liệt. “Xa cách” của Xuân Diệu là bức tranh tâm trạng của người con trai, bộc lộ một tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, khao khát được gần mãi, gần mãi bên người mình yêu, hiến dâng cả cuộc đời mình cho tình yêu ấy.

“Niềm vui của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường vào cái đẹp” (Pautôpxki) bởi thế, sáng tác của các nhà thơ như một cuộc hành trình mải miết kiếm tìm diện mạo mới mẻ về thế giới, con người và khả năng biểu đạt kì diệu của ngôn ngữ văn chương. Bằng ngòi bút nghệ thuật điêu luyện của mình, họ đã làm nên yếu tố “hình” đặc sắc, đa dạng trong thơ. Trước hết là hình ảnh thiên nhiên qua cái nhìn cảm quan của mỗi nhà thơ

Đến với bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” (Bà Huyện Thanh Quan), hình ảnh thiên nhiên cuộc sống đơn sơ, tiêu điều mang phong vị hoài cổ rất riêng. Tác giả viết:

“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương”

“Đá” và “nước” được nhân hóa, mang tình người và hồn người. Trên cái “nền cũ lâu đài”, đá thách thức cùng năm tháng “vẫn trơ gan” đau đớn, buồn thương. Nơi bến cũ, hồ xưa, “nước còn cau mặt” với mọi đổi thay, “với tang thương” cuộc đời. Lấy cái bất biến: “vẫn trơ gan”, “còn cau mặt” của đá và nước để làm nổi bật cái tang thương cuộc đời là một nét vẽ “hoài cổ” làm rung động lòng người gần hai trăm năm qua. Có trải qua loạn lạc, chiến tranh và phế hưng ở đời mới thấy hay, mới thấy thấm thía. Phép đối chặt chẽ, cách sử dụng, từ Hán Việt (tuế nguyệt, tang thương) tinh tế, đã làm tăng chất súc cảm của vần thơ. Chất hoài cổ như thấm vào đáy tầng sâu của lòng người, cảnh vật, cỏ hoa. Trong con mắt của thi sĩ, hình ảnh thiên nhiên Thăng Long xưa hiện lên đầy tang thương, xơ xác nhuốm màu trầm buồn của thời gian quá khứ.

Còn trong thơ Bích Khê, thiên nhiên vừa là nguồn cảm hứng cũng vừa là nguồn đề tài trong thơ Bích Khê. Tuy nhiên, thiên nhiên trong thơ ông không chỉ mang vẻ đẹp vốn có của tạo hóa mà nó còn mang nét độc đáo riêng: thiên nhiên mang nét thiên tính nữ. Dưới cái nhìn tương giao cảm giác. Tất cả mọi sự vật trong thơ Bích Khê được cảm nhận qua các cảm giác về âm thanh, màu sắc tương giao. Vì thế, thiên nhiên ở đây, từ nắng gió, hương hoa cho đến màu sắc đều trở thành kí hiệu của nhạc. Thiên nhiên tràn ngập trong giai điệu du dương, trầm bổng. Cả một không gian mượt mà có hương trầm thoảng nhẹ, có gió tâm tư say cùng với “trăng liễu mướt đường tơ”, rất dịu dàng và nhẹ nhàng, như người thiếu nữ đang e thẹn khi sống trong tâm trạng yêu đương. Yêu trăng giống Hàn Mặc Tử, trong thơ của mình, Bích Khê thường hay dùng trăng để làm chất liệu cho thơ. Ta có thể thấy ở hai bài “Tranh lõa thể”, trăng xuất hiện ở những câu tuyệt bút:

“Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc

Vài chút trăng say đọng ở làn môi

Hai vú nàng, hai vú nàng! Chao ôi

Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng”

Không phải ngẫu nhiên mà Hàn Mặc Tử và Bích Khê lại gặp nhau tại một điểm: yêu trăng. Nếu Hàn Mặc Tử yêu trăng đến độ nhìn trăng và liên tưởng trăng như dáng hình của người thiếu nữ:

“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi”

(Bẽn lẽn)

thì Bích Khê đã hình tượng hóa thiên nhiên qua hình dáng, qua vẻ đẹp của người thiếu nữ, giữa thiên nhiên và con người đã có sự tương giao:

“Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ

Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này.”

Nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa tượng trưng là sự tương giao, tương hợp. Baudelaire đã từng quan niệm: Vũ trụ là một thể thống nhất, trong đó tất cả đều tương ứng với nhau. Có sự tương ứng giữa cái tự nhiên với cái siêu nhiên, có sự tương ứng giữa thế giới này với thế giới đằng sau đầy bí ẩn….Nếu tổng hòa các yếu tố trong hai bài thơ “Tranh lõa thể”, ta cũng sẽ thấy rõ sự tương giao đó. Đó là sự tương giao tổng thể, tương giao giữa thiên nhiên, con người, thơ, họa, nhạc, hương, vị và cả mọi giác quan, khó mà phân biệt rạch ròi. Điều này sẽ dễ dàng lí giải vì sao Hoài Thanh nhận xét thơ Bích Khê “đọc đôi ba lần cũng như chưa đọc”

Không dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên đất trời, các nhà thơ còn vẽ nên những bức tranh đa sắc đa hình về cuộc sống và con người thực. Ở bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ”, bà Huyện Thanh Quan đã tái hiện lại cảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa qua một loạt hình ảnh thơ không giản dị, thuần Nôm mà trang trọng, cổ điển mà đằm thắm. Mở đầu là hai câu thực:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

Xưa kia, nơi mảnh đất đô hội này nhộn nhịp bởi người đi kẻ lại, những lối đi tấp nập, những xe ngựa rộn ràng qua lại, đây là xe của những người có chức tước, địa vị, hoặc cũng có thể là xe của những thương nhân, của những lái buôn qua lại chở đầy hàng hóa. Ở đây nhà thơ không kể ra cụ thể đối tượng của những chiếc xe mà gợi ra được không khí vui tươi, nhộn nhịp, đây chính là biểu hiện của một cuộc sống đang phát triển, nơi mà những người dân sống trong yên bình, độc lập. Nhưng, đó cũng chỉ là những hồi tưởng của nhà thơ, những hình ảnh của cuộc sống đang lên đó cũng chỉ là tồn tại trong kí ức sống động của nhà thơ, còn thực tại thật khiến người ta đau lòng, “hồn thu thảo”, đó là những ngọn cỏ tàn úa của mùa thu,không gian mùa thu gợi ra không khí của sự chia li, của phút giây li biệt. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà Bà Huyện Thanh Quan sử dụng hình ảnh thu thảo ở đây, bởi nó chính là lời li biệt của đất trời, thể hiện sự tiếc thương của thiên nhiên, vũ trụ đối với sự ra đi mãi mãi của những miền kí ức, và càng xót xa hơn nữa khi đó lại là những kí ức tươi đẹp, hằn sâu vào trong kí ức của mỗi người. “Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, xưa kia, mảnh đất Thăng Long là nơi đóng đô của bao nhiêu triều đại, đây cũng là nơi phát triển nhất, sầm uất nhất của đất nước. Đây cũng là nơi vua chúa ở, và nơi ở đó chính là những lâu đài, những cung phủ đầy nguy nga, tráng lệ, vừa thể hiện được sự cao quý, uy nghiêm của bậc vương giả, lại vừa điểm to cho mảnh đất rồng thiêng. Nhưng giờ đây những lâu đài, đình điện đó cũng trở nên u buồn khuất sau ánh tịch dương, câu thơ cũng thể hiện được sự thất thế của các triều đại, sự thay đổi liên tục các triều đại trong một thời gian ngắn cũng phần nào làm cho không khí nơi đây giảm bớt đi sự uy nghi, bệ vệ. Cùng với sự thay đổi của cảnh vật nơi kinh thành Thăng Long là sự cố định của những vật thể gắn bó, nhưng sự tồn tại cố hữu này lại mang một vẻ tang thương đến đau lòng, nó không còn vẹn nguyên như lúc ban đầu nữa.

Còn trong thi phẩm “Tranh loã thể” của Bích Khê, nổi bật hơn cả là hình ảnh thiên tính nữ mang vẻ đẹp hình thể của người thiếu nữ với cảm hứng xác thịt chiếm ngôi thần. Trước đây, phải khó khăn lắm, ngăn trở lắm, Hồ Xuâu Hương cũng chỉ mới đề cập  đến những vấn đề nhạy cảm như chuyện ái ân, chuyện phòng the của người phụ nữ:

“Hỡi chị em ơi có biết không?

Một bên con khóc một bên chồng

Bố cu lổm ngổm bò trên bụng

Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.”

(Cái nợ chồng con)

Thực chất bà chỉ ca ngơi vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ và đòi quyền sống cho thân xác của con người, cho nhu cầu muôn đời của nhân loại. Ngày sau, Bích Khê cũng đã đề cập đến vấn đề xác thịt nhưng, táo bạo hơn, Bích Khê đã đặt vấn đề này ngang hàng với “đẹp”. Chính vì vậy, đề cập đến “đẹp” thơ Bích Khê đã phản ánh ở một phạm trù hoàn toàn mới lạ, độc đáo: phạm trù thơ lõa thể, thơ xác thịt đã chính thức lên ngôi.

Trong thơ của mình, bằng tên gọi phím chỉ về những người thiếu nữ khác nhau, có lúc Bích Khê gọi người thiếu nữ là nàng, có lúc ông gọi là tiên nương, là giai nhân. Dùng những tên gọi mĩ miều như thế, bởi người thiếu nữ mà ông phát họa mang những vẻ đẹp của tạo hóa: Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ

“Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm?

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?”

Dưới cái nhìn tượng trưng, siêu thực, nàng thơ của Bích Khê mang vẻ đẹp của “tiên nương”,“da nàng tuyết điểm”, nhan sắc nàng lên hương, mắt nàng long lanh “ngời châu rung”, một “tiên nương” hiện ra “mừa tựa một giai nhân”. Đứng trước “tiên nương”, Bích Khê chỉ biết thốt lên trước tấm thân yêu kiều, trong trắng của nàng sau khi được trút bỏ qua lớp xiêm áo: “Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động”. Ít nhiều từ văn hóa phồn thực, kết hợp với yếu tố thiên tính nữ, thi sĩ coi vẻ đẹp của người thiếu nữ là vẻ đẹp thiên phú, là sản phẩm vốn có mà thiên nhiên đã ban tặng. Bích Khê đã lấy vẻ đẹp tinh túy của đất trời, của thiên nhiên để thổi hồn vào tuyệt tác giai nhân khiến cho tuyệt tác như sống động, uốn éo. Trong không gian huyền diệu, hương quyện lâng lâng, trang tuyệt thế giai nhân càng thêm quyến rũ.

Bút trong tay, mắt đắm chìm trên cơ thể của người thiếu nữ, chợt “danh họa” Bích Khê dừng lại nơi tuyệt đẹp nhất của giai nhân, đó là đôi vú người thiếu nữ. Đường cong nhạy cảm của người thiếu nữ được phát hiện. Bằng cái nhìn lõa thể, Bích Khê thường hay nói nhiều đến đôi vú của người thiếu nữ, chẳng hạn như trong một số bài thơ khác:

“Những vú nõn: đồi cong thon, nho nhỏ

Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh”

(Sắc đẹp)

Với thi sĩ Bích Khê, đôi vú của người thiếu nữ là nguồn thơ. Chính vì thế, chàng thi sĩ làm thơ, tức là “nút” vú, chàng muốn “nút”, muốn “nư”, nút cho đến no nê, cho đến tràn trề, cho thỏa mãn tinh chất của người thiếu nữ. Liên hệ với một số bài thơ khác, ta sẽ thấy rõ điều đó:

“Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ

Lấy môi lấy má…lấy ngây thơ

Để anh nút ớn mùi hương ấm

Của một tình yêu giận hững hờ”

(Ảnh ấy)

“Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng

Nút bao thanh khí, đã nư thèm…”

(Cùng một cô đào hát bộ)

Có thể thấy, vẻ đẹp hình thể của người thiếu nữ là một tín hiệu nghệ thuật rất độc đáo mà Bích khê thường hay nhắc đến. Bích Khê muốn lấy vẻ đẹp trong trắng để hóa giải cho quan niệm khiêu dâm truyền thống mà thơ ca xưa vốn lên tiếng đả kích. Do đó, thơ Bích Khê không hề dâm như một số người đã nhận định. Thiên tính nữ khiến cho thơ Bích Khê đạt đến ngưỡng đặc biệt như thế. Như vậy, vẻ đẹp thiên tính nữ đậm chất Á Đông, được kết tinh rõ nhất trong thơ Bích Khê. “Tiên nương” của Bích Khê có đầy đủ tất cả những vẻ đẹp của người phụ nữ Á Đông. Nàng đẹp ở tài hoa, ở thiên hương, ở phẩm tiết. Nàng đẹp từ ngoại hình cho đến phẩm chất bên trong, nàng là hiện thân cho cái đẹp toàn mĩ mà nhân loại đang hướng đến. Cuộc đời và số phận của Bích Khê quá nhiều đau thương và bất hạnh, chính vì thế mà càng đau thương, càng bất hạnh ông càng khát khao, càng mơ ước được chiếm hữu những cái đẹp như thế.

Quả thực, phương diện nghệ thuật hình ảnh trong thơ là một yếu tố độc đáo, thể hiện sâu đậm dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ ngôn từ, đem đến cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ mà đẹp chưa từng có về thiên nhiên, cuộc sống và con người.

Nhưng tác phẩm thơ ca có giá trị thực sự không đơn thuần chỉ là những bức tranh cầu kì sắc màu mà nhà thơ còn phải cho người đọc cảm nhận được cái “ý” sâu xa ẩn đằng sau trang viết.

Đến với “Thăng Long thành hoài cổ” (Bà Huyện Thanh Quan), ta bắt gặp một con người có lòng yêu nước thiết tha với cảm giác buồn, xót xa trước thực trạng hoang tàn, biến động của cố đô đất Bắc. Mở đầu tác phẩm là tiếng than về lẽ phế hưng, đổi thay trong cuộc đời:

“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”

“Tạo hóa” ở đây là những gì thuộc về tự nhiên, cũng là những cái vốn có, tồn tại khách quan, ngoài ý muốn chủ quan của con người nên dù có muốn thì con người cũng không sao thay đổi được. “Hí trường” dùng để chỉ sân khấu, nơi diễn ra những trờ mua vui cho người đời, nơi những câu chuyện thật giả đều được khắc họa, tái hiện. Nhưng nếu chỉ là một sân khấu, mọi viễn cảnh trên sân khấu ấy chỉ là một vở kịch được dàn xếp, sắp đặt thì còn có thể thay đổi, nhưng nó lại là thực tế của đời sống thì sao có thể đổi thay “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường”, đây là sự trách móc nhẹ nhàng, tế nhị của Bà Huyện Thanh Quan, trước hiện thực cuộc sống đầy biến loạn, bà trách tạo hóa sao đã quá vô tình, sao có thể gây ra bao nhiêu sầu khổ cho con người như vậy. Hai tiếng “gây chi” vừa là lời trách móc song cũng là lời than thở của nhà thơ, thời gian cứ vô tình chảy trôi, guồng quay của lịch sử đã làm đổi thay bao cảnh vật, nơi địa danh được xem là mảnh đất đô hội, là kinh đô của bao triều đại- Thăng Long ấy cũng trải qua bao đổi thay, cũng chỉ là diện mạo, tên gọi mà những thăng trầm của lịch sử cũng vô tình để lại những dấu vết, những kí ức không bao giờ phai. Ta nhận ra, những vần thơ ấy là tâm sự chân thành, tha thiết của Bà Huyện Thanh Quan, đó là một nỗi lòng buồn, da diết khi gửi gắm vào lời thơ những tâm sự buồn, cái nhìn xa vắng mênh mông, cùng với đó là sự tiếc nuối mơ hồ và cái thở dài đầy ngao ngán. “Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”, thời gian cứ vô tình chảy trôi, sự tuần hoàn ấy khiến cho con người không hề hay biết, để khi quay mặt nhìn lại thì không khỏi bàng hoàng, xót xa. Thăng Long trong kí ức của nhà thơ là một mảnh đất tươi đẹp cùng với những hào quang chói lọi của lịch sử, nhưng đã qua rồi cái thời hoàng kim ấy, cái quay đầu của nhà thơ chỉ đón nhận lại những hoài niệm đầy xót xa, bởi hiện thực bây giờ đã đổi khác, thời thế biến loạn, người dân đau khổ, còn đâu nữa những kí ức tươi đẹp. Trong cảm nhận của nhà thơ, thời gian cũng chảy trôi vô tình, ta cũng bắt gặp quan điểm, cách cảm nhận thời gian này trong thơ của Nguyễn Du:

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”.

Khép lại bài thơ là nỗi đau của người thi nhân trước cuộc đời đổi thay:

“Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”

“Gương cũ” ám chỉ quá khứ, là thành Thăng Long xưa, là hiện tại, là Hà Nội nay. “Cảnh đấy” là “lối xưa”, là “nền cũ”, “hồn thu thảo”, “bóng tịch dương”, là “đá” và “nước”, là hồn nước thiêng liêng, là kinh thành xa xưa. Còn “người đây” là nữ sĩ, là nhân vật trữ tình trong bài thơ. “Đoạn trường” nghĩa là đứt ruột, nỗi đau ghê gớm. Nữ sĩ vô cùng đau đớn trước cảnh hoang phế, hoang tàn của kinh thành Thăng Long. Nhớ xưa thành Thăng Long là nhớ tới tất cả niềm tự hào về những trang sử vàng chói lọi của tiền nhân. Hai chữ “ngàn năm” gợi nhớ về thiên niên kỉ Thăng Long huy hoàng. Hai vế tiểu đối “cảnh đấy”, “người đây” làm nổi bật sắc điệu thẩm mỹ tả cảnh ngụ tình. Câu một nói về “cuộc hí trường”, câu tám cực tả “đoạn trường”, đó là cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Có chứng kiến, có nhìn thấy sựu đổi thay đến thấm thoắt nơi kinh thành Thăng Long thì mới có nỗi đau đứt ruột đến như vậy. Qua đó, bài thơ đã gửi gắm một nỗi niềm tâm sự mới mẻ mà sâu sắc, nỗi đau đớn, xót xa của nhà thơ trước thực tại hoang tàn, đổ nát, biến động theo năm tháng của kinh thành Thăng Long thông qua ngòi bút nghệ thuật cổ điển, trang trọng đặc trưng của bà Huyện Thanh Quan.

Đến với Xuân Diệu, người ta vẫn thường ví thơ ông giống như một “khu vườn tình” mà ai đọc cũng như thấy mình lạc lối trong muôn vàn cung bậc cảm xúc của tình yêu. Bởi vậy mà người đời cũng hào phóng phong tặng cho Xuân Diệu làm ông hoàng của thơ tình. Nhưng ông hoàng ấy không hề dát ánh vàng cho một thứ tình yêu lung tinh huyền ảo mà đôi khi là những gì rất giản đơn trong tình yêu như “Xa cách”.Một tâm trạng rực cháy nhưng cũng đầy hỗn loạn của người đang yêu. Đó là một cảm xúc rất tự nhiên, một đề tài muôn thuở của thơ ca nhưng cũng được khai thác ở một khía cạnh gần gũi. Bài thơ bắt đầu và cũng bắt ý hết sức tự nhiên từ hai từ “Xa cách”, nhưng đó không phải là sự xa cách thông thường của những mỗi quan hệ thông thường, mà là sự xa cách trong tình yêu, xa cách giữa “anh” và “em”, xa cách về cả thể xác và tâm hồn. Mạch cảm xúc bắt đầu từ đó:

“Có một bận em ngồi xa anh quá,

Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn.

Em xích gần thêm một chút: anh hờn.

Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa.

Anh sắp giận. Em mỉm cười, vội vã

Đến kề anh, và mơn trớn: “em đây!”.

Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay.

Vì anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm.”

Bài thơ mở đầu bằng một lời tâm sự trải lòng của người con trai, của “anh” trước người con gái mình yêu. Họ ngồi cạnh nhau trong một buổi hò hẹn, ai cũng thấy như thế đã là gần gũi, nhưng người trong cuộc “anh” lại không thấy như vậy. Những tính từ ‘xa quá” được chuyển thành “xích lại”, “gần hơn”, “xích gần”, “thêm chút nữa”,… Khoảng cách rõ ràng được rút ngắn lại mà ai cũng cảm nhận được nhưng “anh” vẫn “hờn” vẫn “giận”, dù cho em có ngọt ngào “em đây” “anh” cũng vẫn “buồn ngay” vẫn nghĩ “thế vẫn còn xa lắm”. Dường như những gần gũi về thể xác vẫn là chưa đủ, dường như yêu mà vẫn đầy nghi hoặc. Người ta vẫn nói tình yêu là cả hai cùng tin tưởng tuyệt đối nhưng Xuân Diệu cũng mang đến một triết lí tình yêu rất đúng, yêu là nghi hoặc là tham lam, nếu như không yêu thì đã chẳng như vậy. Với một người con trai tính chiếm hữu, sở hữu lại càng mãnh liệt nên không những mong ở gần người mình yêu mà còn mong được chiếm hữu được hòa quyện vào nhau làm một. Ngay từ những dòng thơ đầu tiên Xuân Diệu đã mang đến một cảm xúc tình yêu vô cùng mãnh liệt.

Nhưng những cảm xúc của chàng trai đang yêu là không hề vô lí, “anh” tự tìm lời giải thích cho khát khao gần gũi của mình:

“Đôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!

Ôi trời xa, vừng trán của người yêu!

Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều

Mà ta riết giữa đôi tay thất vọng.

Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng.

Em là em, anh vẫn cứ là anh.

Có thể nào qua Vạn Lí Trường Thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.”

Đến những dòng thơ này ta mới thấy, nghi hoặc hay lo âu của “anh” cũng là bởi yêu “em”, bởi mọi thứ từ “em” luôn khiến anh say đắm, khiến anh luôn muốn được hòa vào sâu lắng. Từ “đôi mắt”, “vừng trán”, “bàn tay” nhân vật trữ tình “anh” đều thấy toàn là sự “yêu kiều”. Chính vì vậy mà nhà mĩ học người Đức Emanuel Kant đã nói “ Cái đẹp không ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở trong mắt của kẻ si tình” . Nhưng đan xen trong sự mê đắm đó vẫn không thoát khỏi sự ngờ vực “Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng” nhưng “Em là em, anh vẫn cứ là anh” hai ta vẫn là hai cá thể riêng biệt chẳng thể hòa làm một, giữa hai ta vẫn có khoảng cách. Xuân Diệu đã có những so sánh vô cùng thú vị khi khoảng cách cần vượt qua như “Vạn Lí Trường Thành” còn “anh” và “em” thì như hai “vũ trụ chứa đầy bí mật”. Sự thật ấy chẳng thể nào chối cãi hay phủ nhận chính vì vậy giữa hai ta vẫn luôn tồn tại khoảng cách, dù là vô hình hay hữu hình. “Anh” vẫn không thể nào nhìn thấu được “em” kể cả khi hai trái tim đã cùng chung nhịp đập. Dường như những khát khao len sâu vào trái tim của người mình yêu là muôn thở là tâm lí chung của muôn vạn người đang yêu. Bài thơ tình số 28 của Tago là minh chứng cho hơi thở chung của thơ tình thế giới:

“Đôi mắt băn khoăn của em buồn

Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh.

Như trăng kia muốn vào sâu biển cả.

Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em,

Anh không giấu em một điều gì.

Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh”

Không là hai “vũ trụ chứa đầy bí mật” như Xuân Diệu thì cũng là “đại dương to lớn mênh mông”  khó lòng so sét thấu hiểu. Cho nên khát khao chiếm hữu cả những suy tư của người mình yêu vẫn không ngừng nghỉ dù ở bất kì thời đại nào.

Tiếp tục lí giải cho khát khao hòa làm một của mình, nhân vật trữ tình “anh” cũng tự nghĩ về chính mình, hiểu được bản thân mình cũng chứa đầy những bí mật:

“Thương nhớ cũ trôi theo ngày tháng mất,

Quá khứ anh, anh không nhắc cùng em.

Linh hồn ta u ẩn tựa ban đêm,

Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ.

Kiếm mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió,

Anh muốn vào dò xét giấc em mơ.

Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ,

Cũng như em giấu những điều quá thực..”

“Anh” hiểu chính mình cũng đầy những bí mật mà không ai có thể khám phá hết. Đó là “quá khứ” chẳng thể giãi bày là linh hồn “âm u” chính bản thân “anh” còn chẳng “thấu rõ”. Đan xen trong những cảm xúc tình yêu mãnh liệt vẫ luôn là sự “nghi hoài”, “ghen bóng ghen gió”, dường như trở thành bản chất, là gia vị không thể thiếu của tình yêu. Chính bản thân nhà thơ cũng phải khát khao, cũng phải mong chờ nhiều mới có thể thành thật viết nên những cảm xúc như vậy. Xuân Diệu rất biết cách đẩy những cảm xúc lên cao trào, nhưng khát khao nghi hoặc trong tình yêu đến mức “anh” muốn đi vào cả trong giấc mơ “em”, đi vào cả trong cõi vô thực để hiểu em nghĩ gì, khi vô thức em có lừa dối “anh”. Nhân vật trữ tình không hề ngại ngần giấu đi sự ích kỉ của bản thân mà mãnh liệt thừa nhận sự chiếm hữu. Nhưng rõ ràng dù là mơ hay thực, dù hiện hữu hay vô hình, dù là “em” hay “anh” cũng chẳng thể nào phơi bày hết cả trước mắt nhau, giữa hai ta vẫn có những bí mật cất giấu. Phải chăng nhờ những điều “giấu em”, “giấu anh” đó mà tình yêu trở nên thú vị hơn khi cả hai đều trở nên có sức hút cả hai ta cùng khao khát hiểu thấu được nhau, cùng hờn giận, cùng ghen tuông.

Khi những cảm xúc đã thăng hoa, màu yêu đương ngập trong mắt kẻ tình si, khi những lí giải vẫn chẳng thể hóa giải thì những khát khao gần gũi, hòa quyện vẫn nghiễm nhiên lên ngôi. “Anh” lại trở về với những khát vọng trần trụi “Như máu thịt đời thường ai chẳng có” (“Tự hát”- Xuân Quỳnh) là được bên em thật gần, thật gần:

“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt”

Một loạt những từ cầu khiến “Hãy” cùng biện pháp tu từ điệp ngữ đã tạo nên một giai điệu dồn dập, mau lẹ tựa như một khúc ca cháy bỏng của tình yêu. Câu thơ ngắn vừa như lời van xin lại vừa như yêu cầu bắt buộc “em” không được phép từ chối “anh”. Những đòi hỏi của “anh” về tình yêu nào đâu quá xa vời, “anh” chỉ mong hai cơ thể quấn quýt đan lồng thậm chí hòa quyện vào nhau, có thể trần trụi quá nhưng đó hoàn toàn là những khao khát rất thực, rất đời thường mà có lẽ chỉ có ông hoàng thơ tình – Xuân Diệu mới đủ can đảm để nói ra. “Đôi đầu”, “đôi ngực”, “đôi mát tóc ngắn dài”, “cánh tay”, “đôi vai”, “sóng mắt”, cặp môi”,…mỗi bộ phận cơ thể đều có đôi có cặp nhưng không hề tách rời mà đang ngày một gần gũi hòa vào nhau chẳng còn kẽ hở. Điều này làm ta chợt nhớ đến một bài thơ khác của Xuân Diệu khi “anh với em như một cặp vần” (“Thơ duyên”). Bằng cách liệt kê một loạt nhưng cặp bộ phận cơ thể ta có thể hình dung ngày một rõ hơn ngọn lửa tình đang rực cháy trong trái tim người con trai. Tình yêu bỗng chốc được cảm nhận bằng đầy đủ các giác quan của cơ thể “Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng”, một ẩn dụ chuyển đồi cảm giác khá thú vị khi nhân vật trữ tình đang say trong sự giao thoa của hai “vũ trụ” và cảm nhận được từng tế bào của tình yêu. Nhưng “anh” say mà vẫn chẳng hề mất đi ý thức:

Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:

“Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!”.

Trong men say của tình ái, khi tình yêu thăng hoa “anh” vẫn đầy nghi hoặc. Có lẽ khát khao của cả đoạn tình yêu này đó chính là được “gần em” “gần em thêm”,…dù gần em bao nhiêu đi chăng nữa anh vẫn thấy “thế vẫn còn xa lắm” thế vẫn là chưa đủ. Ai cũng thấy được sự tham lam trong tình yêu của “anh” nhưng ai đã từng yêu hoặc đang yêu sẽ đồng cảm cùng trường cảm xúc này của Xuân Diệu. Bởi chỉ khi yêu thật nhiều, thật say đắm mới có những khát khao dục vọng bình thường mà sâu sắc đến vậy. Qua đó, bài thơ đã vẽ nên câu chuyện tình yêu cháy bỏng và không kém phẫn mãnh liệt.

Quả thật, không có “ý” thì tác phẩm chỉ là một bức tranh đẹp nhàm chán chứ không thể trở thành một bài thơ đích thực, có giá trị cho cuộc sống con người.

“Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi động chạm tới cuộc sống” (Nguyễn Đình Thi), nó khởi phát từ những tình cảm, cảm xúc mãnh liệt trong lòng người nghệ sĩ. Có thể nói, khôn có “tình:” thơ chỉ là cái vỏ rỗng vô hồn, không đủ khả năng làm rung động trái tim con người đến vậy. Yếu tố tình cảm, cảm xúc đã làm nên hồn cốt, cái đẹp hoàn thiện cho tác phẩm.

Đến với tác phẩm “Thăng Long thành hoài cổ“, Bà Huyện Thanh Quan đã gửi vào trong câu chữ tình cảm xót thương, hoài niệm về một kinh thành Thăng Long huy hoàng xưa. Đó là tiếng than trước lẽ phế hưng, đổi thay trong cuộc đời:

“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”

Mọi viễn cảnh trên sân khấu ấy chỉ là một vở kịch được dàn xếp, sắp đặt thì còn có thể thay đổi, nhưng nó lại là thực tế của đời sống thì sao có thể đổi thay “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường”, đây là sự trách móc nhẹ nhàng, tế nhị của Bà Huyện Thanh Quan, trước hiện thực cuộc sống đầy biến loạn, bà trách tạo hóa sao đã quá vô tình, sao có thể gây ra bao nhiêu sầu khổ cho con người như vậy. Hai tiếng “gây chi” vừa là lời trách móc song cũng là lời than thở của nhà thơ, thời gian cứ vô tình chảy trôi, guồng quay của lịch sử đã làm đổi thay bao triều đại – Thăng Long ấy cũng trải qua bao đổi thay, cũng chỉ là diện mạo, tên gọi mà những thăng trầm của lịch sử cũng vô tình để lại những dấu vết, những kí ức không bao giờ phai. Ta nhận ra, những vần thơ ấy là dòng cảm xúc chân thành, tha thiết của Bà Huyện Thanh Quan, đó là một nỗi lòng buồn, da diết khi gửi gắm vào lời thơ những tâm sự buồn, cái nhìn xa vắng mênh mông, cùng với đó là sự tiếc nuối mơ hồ và cái thở dài đầy ngao ngán. Đã qua rồi cái thời hoàng kim ấy, cái quay đầu của nhà thơ chỉ đón nhận lại những hoài niệm đầy xót xa, bởi hiện thực bây giờ đã đổi khác, thời thế biến loạn, người dân đau khổ, còn đâu nữa những kí ức tươi đẹp.

Nối tiếp dòng cảm xúc, tác giả viết:

“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương”

“Đá” và “nước” được nhân hóa, mang tình người và hồn người. Trên cái “nền cũ lâu đài”, đá thách thức cùng năm tháng “vẫn trơ gan” đau đớn, buồn thương. Nơi bến cũ, hồ xưa, “nước còn cau mặt” với mọi đổi thay, “với tang thương” cuộc đời. Lấy cái bất biến: “vẫn trơ gan”, “còn cau mặt” của đá và nước để làm nổi bật cái tang thương cuộc đời là một nét vẽ “hoài cổ” làm rung động lòng người gần hai trăm năm qua. Có trải qua loạn lạc, chiến trnh và phế hưng ở đời mới thấy hay, mới thấy thấm thía. Qua đó, nữ sĩ gửi gắm nỗi buồn thương nhớ và tiếc nuối kinh thành Thăng Long một thời vàng son, huy hoàng và chói lọi. Chất hoài cổ như thấm vào đáy tầng sâu của lòng người, cảnh vật, cỏ hoa.

“Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”

“Gương cũ” ám chỉ quá khứ, là thành Thăng Long xưa, là hiện tại, là Hà Nội nay. “Cảnh đấy” là “lối xưa”, là “nền cũ”, “hồn thu thảo”, “bóng tịch dương”, là “đá” và “nước”, là hồn nước thiêng liêng, là kinh thành xa xưa. Còn “người đây” là nữ sĩ, là nhân vật trữ tình trong bài thơ. “Đoạn trường” nghĩa là đứt ruột, nỗi đau ghê gớm. Nữ sĩ vô cùng đau đớn trước cảnh hoang phế, hoang tàn của kinh thành Thăng Long. Nhớ xưa thành Thăng Long là nhớ tới tất cả niềm tự hào về những trang sử vàng chói lọi của tiền nhân. Hai chữ “ngàn năm” gợi nhớ về thiên niên kỉ Thăng Long huy hoàng. Hai vế tiểu đối “cảnh đấy”, “người đây” làm nổi bật sắc điệu thẩm mỹ tả cảnh ngụ tình. Câu một nói về “cuộc hí trường”, câu tám cực tả “đoạn trường”, đó là cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Có chứng kiến, có nhìn thấy sựu đổi thay đến thấm thoắt nơi kinh thành Thăng Long thì mới có nỗi đau đứt ruột đến như vậy. Ý thơ đi vào lòng người đọc nhờ câu chữ tràn đầy cảm xúc hoài cổ, một nỗi niềm tâm sự mới mẻ mà sâu sắc, nỗi đau đớn, xót xa của nhà thơ trước thực tại hoang tàn, đổ nát, biến động theo năm tháng của kinh thành Thăng Long.

Đó còn là tình yêu cái đẹp trần trụi mãnh liệt của Bích Khê qua tác phẩm “Tranh loã thể“. Cũng buồn, cũng sầu, cũng đau thương, nhưng thơ Bích Khê hoàn toàn khác với các nhà thơ mới. Nếu các nhà thơ mới giải quyết nỗi buồn, nỗi sầu bằng cách “ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diêu…” thì Bích Khê đã giải quyết nỗi buồn, nỗi sầu bằng cách tìm đến cái đẹp, cái đẹp của thiên nhiên và của giai nhân. Có thể thấy, cảm xúc chủ đạo trong thơ Bích Khê rất lạ, rất độc đáo. Với tư duy nghệ thuật độc đáo, cảm xúc trong thơ Bích Khê nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực: thiên nhiên đã được hình tượng hóa qua dáng hình, qua vẻ đẹp của người thiếu nữ, và tất nhiên, kể cả qua khoái cảm  xác thịt. Nếu thiên nhiên giúp cho Bích Khê mở lòng để đến với thi ca, thì vẻ đẹp của người thiếu nữ giúp cho cảm xúc của Bích Khê được thăng hoa, thăng hoa đến lạ kì:

“Hai vú nàng, hai vú nàng! Chao ôi

Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng

Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động

Tôi run run hãm lại cánh hồn si..”

(Tranh lõa thể)

Cả bức tranh lõa thể “lồ lộ” hiện ra khiến cho thi sĩ vừa run run, vừa đê mê chới với, vừa miên man ngây dại.

Không nằm ngoài qui luật của thi ca, khi đau thương và bất hạnh đến tột cùng, thi nhân thường kết tụ đau thương và bất hạnh đó, biến nó thành cái đẹp cho đời. Bích Khê cũng thế. Bích Khê đã khám phá cuộc đời từ cái nhìn của chết chóc và bệnh tật. Do đó, mặc dù không nói trực tiếp nhưng ta vẫn thấy cái chết và bệnh tật luôn thường trực trong thơ của ông. Nhưng dù có nói đến chết chóc và bệnh tật, Bích Khê không bao giờ đưa người đọc đến cảm giác đau thương và ão não:

Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ,

Sắc trong màu, màu trong sắc, hân hoan…

Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ

Nhạc gây hương, hương gây nhạc, lan man…

Ta những muốn màn đen về cõi mộ

Cả không gian là bể sáng tràn lan…

(Đồ mi hoa)

Mắc phải căn bệnh thuộc “tứ chứng nan y” thời đó, Bích Khê biết mình sẽ sớm lìa bỏ cõi đời. Nhưng đời thơ của ông không cho phép đời người chết đi một cách hoang phí. Vì vậy, dù luôn sống trong những chuỗi ngày bị giày vò bởi bệnh tật, Bích Khê vẫn tìm trong đó những giây phút khoái cảm nhất của đời người. Thơ Bích Khê rất phong phú và đa dạng về đề tài, nhưng có thể thấy độc đáo nhất vẫn là ba đề tài viết về thiên nhiên, về giai nhân, về thế giới của cái chết và bệnh tật. Đó cũng chính là lý do khiến cho Bích Khê tìm đến, gia nhập và trở thành thành viên trung thành nhất của Trường thơ Loạn Bình Định, và cũng đương nhiên là một “người lạ mặt” của thi ca đương thời. Bài thơ “Tranh loã thể” thốt ra như dòng chảy cảm xúc, tình yêu dành cho cái đẹp cảu BÍch Khê, một vẻ đẹp chẳng cần che đậy, giả dối mà đẹp một cách trần trụi, mạnh mẽ đúng như Hàn Mặc Tử đã nhận xét: “Một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc…Ta có thể sánh văn thơ Bích Khê như đóa hoa thần dị ấy”

Cuối cùng, ở tuyệt phẩm “Xa cách” của Xuân Diệu, người đọc lại bắt gặp những dòng cảm xúc mãnh liệt dạt dào mà vẫn rất đỗi nhẹ nhàng, tha thiết trong tình yêu nam nữ. Một tâm trạng rực cháy nhưng cũng đầy hỗn loạn của người đang yêu. Đó là một cảm xúc rất tự nhiên, một đề tài muôn thuở của thơ ca nhưng cũng được khai thác ở một khía cạnh gần gũi. Bài thơ bắt đầu và cũng bắt ý hết sức tự nhiên từ sự xa cách trong tình yêu, xa cách giữa “anh” và “em”, xa cách về cả thể xác và tâm hồn. Mạch cảm xúc bắt đầu từ đó:

“Có một bận em ngồi xa anh quá,

Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn.

Em xích gần thêm một chút: anh hờn.

Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa.

Anh sắp giận. Em mỉm cười, vội vã

Đến kề anh, và mơn trớn: “em đây!”.

Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay.

Vì anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm.”

Đây à lời tâm sự trải lòng của người con trai, của “anh” trước người con gái mình yêu. Họ ngồi cạnh nhau trong một buổi hò hẹn, ai cũng thấy như thế đã là gần gũi, nhưng người trong cuộc “anh” lại không thấy như vậy. Khoảng cách rõ ràng được rút ngắn lại mà ai cũng cảm nhận được nhưng “anh” vẫn “hờn” vẫn “giận”, dù cho em có ngọt ngào “em đây” “anh” cũng vẫn “buồn ngay” vẫn nghĩ “thế vẫn còn xa lắm”. Dường như những gần gũi về thể xác vẫn là chưa đủ, dường như yêu mà vẫn đầy nghi hoặc. Xuân Diệu đã mang đến một triết lí tình yêu rất đúng, yêu là nghi hoặc là tham lam, nếu như không yêu thì đã chẳng như vậy. Với một người con trai tính chiếm hữu, sở hữu lại càng mãnh liệt nên không những mong ở gần người mình yêu mà còn mong được chiếm hữu được hòa quyện vào nhau làm một. Ngay từ những dòng thơ đầu tiên Xuân Diệu đã mang đến một cảm xúc tình yêu vô cùng mãnh liệt. Không là hai “vũ trụ chứa đầy bí mật” như Xuân Diệu thì cũng là “đại dương to lớn mênh mông”  khó lòng so sét thấu hiểu. Cho nên khát khao chiếm hữu cả những suy tư của người mình yêu vẫn không ngừng nghỉ dù ở bất kì thời đại nào.

Lí giải cho khát khao hòa làm một của mình, nhân vật trữ tình “anh” tự nghĩ về chính mình, hiểu được bản thân mình cũng chứa đầy những bí mật:

“Thương nhớ cũ trôi theo ngày tháng mất,

Quá khứ anh, anh không nhắc cùng em.

Linh hồn ta u ẩn tựa ban đêm,

Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ.

Kiếm mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió,

Anh muốn vào dò xét giấc em mơ.

Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ,

Cũng như em giấu những điều quá thực..”

Đan xen trong những cảm xúc tình yêu mãnh liệt vẫ luôn là sự “nghi hoài”, “ghen bóng ghen gió”, dường như trở thành bản chất, là gia vị không thể thiếu của tình yêu. Chính bản thân nhà thơ cũng phải khát khao, cũng phải mong chờ nhiều mới có thể thành thật viết nên những cảm xúc như vậy. Xuân Diệu rất biết cách đẩy những cảm xúc lên cao trào, nhưng khát khao nghi hoặc trong tình yêu đến mức “anh” muốn đi vào cả trong giấc mơ “em”, đi vào cả trong cõi vô thực để hiểu em nghĩ gì, khi vô thức em có lừa dối “anh”. Nhân vật trữ tình không hề ngại ngần giấu đi sự ích kỉ của bản thân mà mãnh liệt thừa nhận sự chiếm hữu. Nhưng rõ ràng, nhờ những điều “giấu em”, “giấu anh” đó mà tình yêu trở nên thú vị hơn khi cả hai đều trở nên có sức hút cả hai ta cùng khao khát hiểu thấu được nhau, cùng hờn giận, cùng ghen tuông.

Khi những cảm xúc đã thăng hoa, màu yêu đương ngập trong mắt kẻ tình si, khi những lí giải vẫn chẳng thể hóa giải thì những khát khao gần gũi, hòa quyện vẫn nghiễm nhiên lên ngôi. “Anh” lại trở về với những cảm xúc, khát vọng trần trụi:

“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt”

Câu thơ ngắn vừa như lời van xin lại vừa như yêu cầu bắt buộc “em” không được phép từ chối “anh”. Những đòi hỏi của “anh” về tình yêu nào đâu quá xa vời, “anh” chỉ mong hai cơ thể quấn quýt đan lồng thậm chí hòa quyện vào nhau, có thể trần trụi quá nhưng đó hoàn toàn là những khao khát rất thực, rất đời thường mà có lẽ chỉ có ông hoàng thơ tình – Xuân Diệu mới đủ can đảm để nói ra. “Đôi đầu”, “đôi ngực”, “đôi mát tóc ngắn dài”, “cánh tay”, “đôi vai”, “sóng mắt”, cặp môi”,…mỗi bộ phận cơ thể đều có đôi có cặp nhưng không hề tách rời mà đang ngày một gần gũi hòa vào nhau chẳng còn kẽ hở. Bằng cách liệt kê một loạt nhưng cặp bộ phận cơ thể ta có thể hình dung ngày một rõ hơn ngọn lửa tình đang rực cháy trong trái tim người con trai. Một ẩn dụ chuyển đồi cảm giác khá thú vị khi nhân vật trữ tình đang say trong sự giao thoa của hai “vũ trụ” và cảm nhận được từng tế bào của tình yêu.

Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:

“Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!”.

Trong men say của tình ái, khi tình yêu thăng hoa “anh” vẫn đầy nghi hoặc. Có lẽ khát khao của cả đoạn tình yêu này đó chính là được “gần em” “gần em thêm”,…dù gần em bao nhiêu đi chăng nữa anh vẫn thấy “thế vẫn còn xa lắm” thế vẫn là chưa đủ. Ai cũng thấy được sự tham lam trong tình yêu của “anh” nhưng ai đã từng yêu hoặc đang yêu sẽ đồng cảm cùng trường cảm xúc này của Xuân Diệu. Bởi chỉ khi yêu thật nhiều, thật say đắm mới có những khát khao dục vọng bình thường mà sâu sắc đến vậy. Nhờ ông hoàng thơ tình mà những cảm xúc khi yêu được hình dung rõ ràng chân thực hơn bao giờ hết, Xuân Diệu say trong chính cuộc tình của mình, còn người đọc cũng nhuốm hơi men mà say sưa những vần thơ của Xuân Diệu, chẳng nỡ rời bước khỏi “khu vườn tình ái” muôn điệu cảm xúc ấy.

Quả thực, dù chân thành, mộc mạc hay mãnh liệt, trần trụi hay buồn thương thì tình cảm, cảm xúc, yếu tố “tình” trong thơ đã mang đến vẻ đẹp sống động như có hồn cho thơ, khơi dậy trong lòng bạn đọc thế giới nội tâm phong phú muôn màu.

Ý kiến trên rất đúng đắn và sâu sắc khi bàn về đặc trưng cảy thơ ca. Điều này không chỉ có ý nghĩa với người sáng tác mà còn với cả người tiếp nhận. “Hình”, “ý”, “tình” trong bài thơ là ba yếu tố không thể tách rời mà phải kết hợp hài hoà, thống nhất tạp thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh đẹp từ hình thức đến nội dung. Hơn thế nữa, từ “thấy” đến “nghĩ” đến “rung động” là quá trình hình thành của tác phẩm thơ và cũng là hành trình đáng thức người đọc. Nhà thơ phải có tài và tâm mới làm nên sự sống cho tác phẩm và đồng thời, độc giả cũng phải mở lòng mình để cảm nhận cái hay, cái đẹp của thi phẩm trên cả hai phương diện này

Sự thống nhất giữa “hình”, “ý”, “tình” trong ba bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” (Bà Huyện Thanh Quan), “Tranh loã thể“(Bích Khê),  “Xa cách” (Xuân Diệu) có sức lay động sâu xa, thắp lên tình yêu văn học trong tâm hồn mỗi người, hướng bạn đọc đến gần hơn với thế giới chân – thiện – mĩ. Chúng ta càng thêm tin tưởng và đề cao tài năng sáng tạovà tấm lòng của các nhà thơ. Chính họ đã chắt lọc những dòng nhựa tinh tuý của cuộc sống để làm đẹp cho người, cho đời.

(Bài viết của học sinh lớp 11 chuyên Văn)

Đề 2.  “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng đó có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng đó có những hình thức riêng” (M.Gorki)

Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

Bài làm

Trong cuốn sách “Những con chim bay lạc”, Rabinddranat từng quan niệm: “Ngọn gió nhà thơ băng qua rừng, băng qua biển để tìm ra tiếng nói của riêng mình”. Để tìm ra và khẳng định tên tuổi mình trên thương trường giấy bút, nhà văn đều phải trải qua những thử thách cam go, vất vả. Nhưng thành quả cho quá trình khổ luyện ấy là dấu ấn phong cách được lưu lại muôn đời, không thể trộn lẫn, không thể quên trong lòng độc giả. Có lẽ đây là món quà quý giá bậc nhất cho bất cứ ai đặt chân vào lĩnh vực nghệ thuật. Vậy nên, M.Gorki đã đặt ra yêu cầu với người cầm bút: “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng đó có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng đó có những hình thức riêng”.

“Nghệ sĩ” là người khai sinh ra những tác phẩm nghệ thuật đích thực. “Những ấn tượng chủ quan” mà họ phải “biết khai thác” chính là cảm nhận, tình cảm, cách đánh giá, nhìn nhận của riêng nghệ sĩ trước sự kiện cuộc sống, không bắt chước, lặp lại người khác. Nhưng “ấn tượng” ấy còn phải mang “giá trị khái quát” nghĩa là nó không chỉ xuất phát từ cảm nhận chủ quan nhà văn mà còn phải có sức tổng quát, tái hiện cả hiện thực rộng lớn, thực trạng chung của xã hội. Những điều này đều được tác giả gửi gắm vào nội dung tác phẩm. Tuy nhiên cũng cần “biết làm cho những ấn tượng đó có những hình thức riêng”, tức là nhà văn đồng thời phải biết chuyển hóa những khám phá, cảm nhận của mình bằng cách sáng tạo hình thức nghệ thuật hấp dẫn, đặc biệt. Như vậy, câu nói của M.Gorki đã đặt ra yêu cầu cần thiết với người nghệ sĩ. Khi bước chân vào nghệ thuật, nghệ sĩ trước tiên phải có khả năng sáng tạo, cảm quan không trộn lẫn người khác để phản ánh hiện thực một cách riêng, giàu tính khái quát, cũng như có thể chuyển tải nội dung qua một hình thức mới lạ, phù hợp.

M.Gorki đã đưa ra nhận định đúng đắn, xác đáng, trở thành tiêu chuẩn cho mỗi người cầm bút. Vốn dĩ văn học bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống rộng lớn, đây là kho tài liệu cho nghệ sĩ học hỏi, tìm kiếm tư liệu, cảm hứng. Nhưng sáng tác nghệ thuật thuộc về cá nhân từng người, hiện thực đến với mội nhà văn lại có ấn tượng khác nhau. Mỗi người với một mối quan tâm, sở thích, trải nghiệm riêng lại tìm kiếm cảm hứng ở một khía cạnh riêng của hiện thực. Cho nên, nhà văn sáng tác chính là để giải tỏa thế giới nội tâm riêng mình trong mối quan hệ với hiện thực. Hơn nữa yêu cầu đặt ra cho lao động nghệ thuật là sáng tạo. Sáng tác là quá trình lao động cá thể, không phải sản xuất theo dây chuyền cho ra hàng loạt sản phẩm giống nhau. Người nghệ sĩ phải là người ý thức sâu sắc cho mình sự sáng tạo, không được phép lặp lại người khác và không lặp lại chính mình. Và: “Đối với nhà văn cũng như họa sĩ, phong cách không phải vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (Marcel Proust). Muốn có được sự sáng tạo, nghệ sĩ trước tiên phải có cái nhìn sáng tạo, “ấn tượng riêng” về cuộc sống. Họ phải khám phá được giữa hiện thực trù phú ấy vẫn còn mảnh đất mới lạ nào đó chưa ai đặt chân, hoặc thậm chí ở ngay mảnh đất quen thuộc vẫn có những góc khuất chưa ai để ý tới, phải cất lên xúc cảm riêng không trộn lẫn. Tuy nhiên, cái “ấn tượng riêng” ấy không nên là những gì quá nhỏ bé, vụn vặt. Nó cần “có giá trị khái quát”, biểu tượng, đặc trưng cho hiện thực đương thời. Bởi xét đến cùng, dù sáng tạo đến đâu cũng là để cho bạn đọc nhìn thấy bản chất hiện thực cuộc sống. Từ đó, giúp độc giả có cách nhìn nhận sâu sắc hơn về xã hội, đặt ra những suy ngẫm về cuộc đời và trách nhiệm với thực tại mình đang sống. Hình thức nghệ thuật trang viết cũng cần chau truốt, đổi mới. Hình thức có độc đáo, mới lạ mới có thể thu hút sự quan tâm từ độc giả ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên. Vì vậy, để khẳng định tài nghệ sáng tác, người cầm bút phải ý thức rõ cho mình sự sáng tạo, từ quá trình cảm nhận, đánh giá hiện thực cho đến truyền tải nó qua trang viết.

Mỗi tác phẩm văn học có thể coi như “một tia lửa không lặp lại” của chính người viết, cũng như của một nền văn học. Tác phẩm sống lâu bền, lưu giữ trong tâm trí bạn đọc bởi nó chứa đựng những giá trị riêng biệt, là “ấn tượng chủ quan” mang tính “khái quát”, được chuyển tải qua “hình thức riêng” của nghệ sĩ. Có lẽ vậy mà cuốn tiểu thuyết “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” của nhà văn người Belarus Svetlana Alexievich đã chiếm trọn tình cảm bạn đọc, xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Văn chương năm 2015. Tác phẩm thể hiện “ấn tượng chủ quan” của nhà văn về cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Xô Viết chống lại Đức quốc xã và phe đồng minh trong thế chiến thứ hai, nhưng là chiến tranh được nhìn dưới góc độ của người phụ nữ ra trận, qua đó khái quát lên hiện thực tàn khốc của cuộc chiến, bày tỏ khát vọng sống, hòa bình của nhân loại. Truyện cũng chọn được hình thức biểu đạt riêng, không trộn lẫn.

Điều làm nên sức hấp dẫn lớn lao nhất cho “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” là “ấn tượng chủ quan” của nhà văn về hiện thực chiến tranh. Nhìn lại lịch sử với vị trí của một con người sống ở thời hiện tại, bà tìm hiểu, phản ánh chiến tranh dân tộc mình qua lăng kính người phụ nữ trực tiếp ra chiến trường. Hay nói cách khác, đây không phải câu chuyện chiến tranh về những đấng anh hùng, nam nhi đại trượng phu, mà là câu chuyện về những người phụ nữ bình thường như bao cô gái khác, sẵn sàng ra chiến trường vì tình yêu Tổ quốc. Với góc nhìn như vậy, chiến tranh hiện lên hoàn toàn mới lạ, khác hẳn các tác phẩm từng xuất hiện trước đó. Svetlama Alexievich viết về những cô gái xả thân nơi tiền tuyến, “họ mười bảy mười tám tuổi, phần đông vừa ra trường, nhiều lắm được một hay hai năm đại học. Dẫu sao động cơ của họ là gì? Cảm xúc của họ thế nào? Bao giờ tôi cũng chỉ được nghe một câu trả lời: “Chúng tôi sẵn sàng chết cho Tổ quốc! Chúng tôi đã được nuôi dạy như thế”. Những cô gái tuổi đời còn rất trẻ, tưởng chừng như không thể làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm ở chiến tuyến, song họ vẫn quyết định ra đi, mặc dù họ còn nhiều lạ lẫm. Họ phải hi sinh nhiều thứ, nhan sắc, tuổi trẻ, sức khỏe,… “Người ta cắt tóc họ như con trai. Bao giờ cũng là chuyện cái bím tóc dài bỏ lại trên căn nhà bẩn thỉu của phòng tuyển quân. Người ta mặc cho họ những bộ quân phục may cho đàn ông (…) Người ta vội vàng dạy họ cách sử dụng một khẩu tiểu liên, một khẩu súng máy, một khẩu cácbin bắn chính xác. Ném bom và đặt mìn. Họ thuần thục tất cả nhiệm vụ quân sự, thậm chí đó là những thứ chỉ dành cho con trai”. Trong con mắt của họ, chiến tranh cũng có “màu sắc và mùi khác”. Họ đi dưới những hàng cây, thu nhặt các xác chết, họ sẽ hạnh phúc biết bao nếu đó là một người bị thương chứ không phải một người chết. “Anh ấy đau đớn, anh ấy mỉm cười, vì anh còn sống. Và vì vườn cây đang ra hoa”. Một cô gái ra đi trước phát súng đầu tiên của kẻ thù, ngay lúc ấy “những con sếu bay qua trên trời. Chúng kêu vang. Mọi người ngửng đầu lên, và cô ấy, cô ấy mở mắt. Cô nhìn: “Tiếc quá…” Rồi cô ngưng nói và mỉm cười với chúng tôi: “Không thể thế được, mình sắp chết ư? Và thế là hết…” Cuộc chiến dưới con mắt người phụ nữ có lẽ đã xóa bớt đi cái cứng nhắc, căng thẳng, mà xuất hiện cả những khoảnh khắc thật dịu dàng, mơ mộng, chứa chan niềm tin, khát vọng. Và với con mắt tinh tường, nhà văn người Belarus đã tìm thấy ở các cô gái những nét đặc sắc trong tâm hồn họ. Là phái nữ ra chiến trường, họ vẫn là chính họ, “giành giữ lãnh địa bên trong của họ”. Vào mùa xuân, các cô mang về một cành cây con cắm trong nước, như nhìn vào đó mà tiếp thêm cho mình sức sống, họ luôn chú ý giữ nụ cười nhiều nhất có thể. Họ cũng muốn được làm đẹp, được đeo hoa tai, làm tóc, làm mi…nhưng môi trường kỉ luật quân đội không cho phép họ làm vậy, họ đành tiếc nuối gửi gắm mong muốn ấy vào khoảnh khắc riêng tư nhất của mình, thậm chí là ngậm ngùi hi sinh. Cũng chính vì phái nữ tham gia tiền tuyến nên sức sát thương lên họ lớn hơn bao giờ hết, chính từ đây sự thật về chiến tranh-điều chưa ai nhận thấy đã được phơi bày hết thảy. Người phụ nữ ra trận cũng là lúc cái bản năng giới tính của họ bị giới hạn, họ hành quân giữa những ngày kinh nguyệt mà không có một vật dụng gì bảo vệ, có người đã bị bắn chết khi đang gột mình ở một con sông vì không muốn để mọi người nhìn thấy “chuyện xấu hổ”. Lại có người rơi vào tình huống oái oăm khi nhận được lời đề nghị từ một thương binh nam được cởi áo cho ngắm đôi ngực đàn bà, chỉ bởi anh ta đã lâu không nhìn thấy vợ. Nỗi xấu hổ sau đó trở thành nỗi day dứt khi một giờ sau trở lại, người thương binh đã chết. Cảm quan riêng của nhà văn còn nhìn thấy cái tàn khốc chiến tranh để lại, tạo thành những vết ám ảnh hằn sâu trong tâm trí người lính nữ. Có người sợ cái chết, sợ mùi máu, “nó bám theo tôi khắp nơi. Tôi giặt quần áo, tôi nấu ăn, nó vẫn ở đấy…Có ai đó cho tôi một chiếc áo sơ mi nữ màu đỏ, thời thiếu vải ấy là của hiếm. Nhưng tôi không bao giờ mặc vì màu cúa nó khiến tôi buồn nôn”. Và khi nhìn thấy thịt gia cầm, người cựu binh thấy nó “cũng trắng như thịt người”, “mùa hè đến, là tôi có cảm giác chiến tranh sắp nổ ra. Khi mọi thứ bị mặt trời nung nóng lên: cây cối, nhà cửa, nhựa đường, tất cả những cái ấy tỏa một thứ mùi, đối với tôi tất cả đều mùi máu. Tôi có thể ăn hay uống bất cứ thứ gì, không thể xua đi được cái mùi ấy! Ngay những tấm trải giường sạch, khi tôi dọn giường, đối với tôi, ngay cả những tấm trải giường ấy cũng có mùi máu…”. Họ còn phải hứng chịu những định kiến, ái ngại từ nhiều người xung quanh về vấn đề lập gia đình. Có thể nói, chiến tranh quốc gia kết thúc cũng là lúc họ phải chiến đấu với cuộc chiến khác, cuộc chiến chống lại bệnh tật, tuổi già, thành kiến, và nỗi ám ảnh…Đó là cuộc chiến để hàn gắn lại những tổn thương, nhưng giành chiến thắng không phải điều dễ dàng. Svetlana Alexievich viết về điều ấy để thấy được đằng sau hào quang của chiến thắng, của người anh hùng còn là những góc khuất mà người ta chưa nhìn thấu hết. Bà tố cáo cái bỉ ổi, phi lí của chiến tranh, hậu quả nặng nề nó kéo dài dai dẳng không chấm dứt. Bà đồng thời cũng cất lên tiếng nói khát vọng hòa bình thông qua ước vọng của những nữ cựu binh Xô Viết. Khi chiến tranh nổ ra, các cô gái luôn mơ về hòa bình, tình yêu thương: “Ôi! Các cậu ơi, miễn là chúng mình sống được cho đến khi đó. Người ta sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu sau chiến tranh! Cuộc sống của họ có được khi đó sẽ hạnh phúc và đẹp đẽ biết bao! Con người sau bao nhiêu đau khổ sẽ biết thương xót nhau. Họ sẽ thương yêu nhau. Nhân loại sẽ thay đổi”. Bước ra khỏi cuộc chiến, họ ám ảnh cái chết chóc, tang thương, trở nên căm thù những món đồ chơi vũ khí mà người ta vốn bán rất chạy như máy bay, xe tăng, vì họ hiểu rất rõ về những thứ vũ khí ấy, chúng là thủ phạm gây nên cái chết cho con người, nó quá tàn nhẫn. Khi đất nước hòa bình, họ mong muốn người ta nhìn nhận đúng về cuộc chiến, thấy hết cái tàn khốc của nó, chứ không phải khơi lên trong lòng người tinh thần ham chiến, quyết tranh giành, đấu đá lẫn nhau. Con người cần hiểu sự sống quý giá đến nhường nào. Bằng “ấn tượng riêng chủ quan của mình”, Svetlana Alexievich thể hiện khám phá mới mẻ của mình về  hiện thực cuộc sống. Bà nhận thấy chiến tranh còn nhiều góc khuất, còn nhiều bi thương không thể hóa giải. Đây là cách nhìn của một con người thời hậu chiến, soi xét quá khứ một cách toàn diện hơn, nó khác với các nhà văn trong thời chiến, luôn ca ngợi chủ nghĩa anh hùng một cách hết mực, như Ostrovski với “Thép đã tôi thế đấy” đã ca ngợi Palven-đại diện cho lớp thanh niên sẵn sàng đi theo lí tưởng Đảng Cộng sản nước Nga Xô Viết với cái nhìn sử thi của bất cứ nền văn học cách mạng nào. Nhưng ở đây Svetlana Alexievich đã có sự gặp gỡ nhiều nhà văn cùng thời, mà tiêu biểu là Sô-lô-khốp, đã dám thẳng thắn đi sâu vào những mất mát chiến tranh để lại. Song nếu như Sô-lô-khốp nhìn vào số phận những đứa trẻ thì Svetlana Alexievich lại thấy được bi kịch của người phụ nữ từng tham gia chiến đấu. Chính nét riêng này đã giúp bà tạo được dấu ấn cho tác phẩm, khiến người đọc bất ngờ trước hiện thực được phản ánh.

Không dừng lại ở tái hiện cuộc sống theo cách cảm, cách nhìn của riêng mình, nữ nhà văn còn từ đó khái quát lên một tầm tư tưởng cao hơn thế. Bà đã cho thấy toàn bộ cái thảm khốc của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đối với Liên bang Xô Viết nói riêng và toàn thế giới nói chung. Bà đã tố cáo cái xấu xa, tàn nhẫn của chiến tranh. Qua đó, nhà văn muốn gửi tới độc giả bức thông điệp khát vọng về tự do, hòa bình. Điều đó thể hiện qua chính chi tiết cuối cùng của tiểu thuyết, mỗi khi nhìn lên bầu trời, người cựu binh cảm thấy sợ nó, nhưng cũng chính ở đó luôn xuất hiện “những con quạ châu Âu đã bình an bay qua trên đó…Chim chóc đã chóng quên chiến tranh”. Cánh chim bay qua bầu trời gợi liên tưởng đến cuộc sống bình yên, không còn khói bom, lửa đạn. Thế giới đã đi qua chiến tranh, đã tìm thấy màu xanh hòa bình của nó, nhưng trong mắt những người từng tham gia chiến trường, họ sống giữa thời bình mà kí ức chiến tranh vẫn ám ảnh mãi mãi. Bầu trời hòa bình ấy như một món quà cho sự hi sinh của họ, thỏa mãn ước nguyện năm xưa của họ. Và cũng chính bầu trời ấy là lời nhắc cho thế hệ về sau biết trân trọng sự sống, biết quý trọng sự tự do, hạnh phúc, hòa bình.

“Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”(Lêônit Lêônốp). Cuốn tiểu thuyết danh giá “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” đồng thời cũng chính là “một phát minh về hình thức”. Tác giả đã sử dụng nhiều trường đoạn dẫn mang tính điện ảnh; lựa chọn lối viết mới mẻ khi đan cài rất nhiều lời kể trực tiếp từ các cựu binh nữ do chính mình phỏng vấn, hòa cùng với lời văn, lời dẫn dắt của riêng mình. Vậy nên, tác phẩm vừa có sự kết nối giữa tác giả và những người phụ nữ bước ra từ cuộc chiến, vừa mang hơi thở của một cuốn phim tài liệu, in đậm phong cách của một nhà báo điều tra.

Có thể nói, tài năng sáng tác của một nhà báo-nhà văn như Svetlana Alexievich đã góp phần làm nên thành công cho cuốn tiểu thuyết danh giá này. Sự sáng tạo, dấu ấn riêng đã tạo nên chiều sâu cho một tác phẩm, đưa bạn đọc đến với vùng đất mới để mở rộng tầm mắt trước hiện thực.

Chế Lan Viên từng đặt câu hỏi:

“Có nên chăng

Ta nói mãi cái truyền thống, cái ngàn năm

Đến nỗi bó tay chẳng làm gì được nữa?”

Câu hỏi có lẽ đã để lại day dứt trong lòng nhiều người cầm bút, vì không thể cứ nói mãi những “cái truyền thống, cái ngàn năm” theo lối mòn nữa, mà cần có sự sáng tạo, đổi mới. Nhưng sáng tạo không có nghĩa là tạo ra những gì kì quái, khó hiểu, nó cần mang tính nhân văn, hướng đến lợi ích chung của cộng đồng. Câu nói của đại văn hào M.Gorki đã thực sự đặt ra bài học lớn đối với giới văn nghệ sĩ. Khi chấp nhận dấn thân vào nghệ thuật đồng nghĩa việc dấn thân với thử thách, phải sáng tạo không ngừng, tìm được lối đi, “ấn tượng” riêng cho mình. Để sự sáng tạo trở nên thành công, trước tiên anh phải ngụp lặn, trải nghiệm với đới, tạo cho mình cái nhãn quan đúng đắn, sâu sắc, sau đó mới là khám phá điều mới lạ, chưa ai tìm thấy. Nghệ sĩ phải hình thành cho mình hệ tư tưởng đúng đắn, phổ quát toàn nhân loại, đồng thời cũng phải có tài năng trong sáng tạo hình thức nghệ thuật. Tác phẩm sẽ chết nếu như không có bạn đọc. Vì thế, người đọc với vai trò đồng sáng tạo với nhà văn cần biết trân trọng công sức của họ, đón nhận tác phẩm với tất cả lòng nhiệt thành, thấy được cái mới của trang viết, từ đó học hỏi, mở rộng tầm mắt mình trước cuộc sống.

“Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình” (Lã Nguyên). Họ có quyền được lựa chọn điều mình quan tâm, phản ánh. Và trên hết dù viết về điều gì họ cũng đều lưu lại đó “ấn tượng” chủ quan “có giá trị khái quát” đi cùng với hình thức riêng biệt, độc đáo.

(Bài viết của học sinh lớp 12 chuyên Văn)

2.2. Vận dụng một phần kiến thức tác phẩm ngoài chương trình vào đề nghị luận văn học (kiến thức tác phẩm ngoài chương trình chiếm khoảng 40 – 50% )

Đề 1. Bàn về nghề văn, nếu nhà văn Pautốpxki cho rằng: “Thiên chức của nhà văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp” thì Gô – gôn khẳng định “Có những thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của cuộc sống hiện tại thì ta sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái Đẹp”.

Giải thích và trình bày ý kiến của anh/ chị về hai nhận định trên qua tác phẩm trong và ngoài chương trình

Bài làm

Mỗi trang văn không phải lúc nào cũng rực rỡ như ánh nắng sớm mai mùa hạ, đẹp đẽ như nụ hoa chớm nở đầu xuân, ấm áp như ánh lửa hồng trong đêm giá rét và yên bình như mặt đất đón nhận chiếc lá thu rơi xào xạc tìm về với nguồn cội. Nó còn là những mảng màu tối của bức tranh hiện thực, là những cơn mưa bão xối xả, ào ạt trước khi để lại trên nền trời vẻ đẹp bảy sắc cầu vồng. Chẳng thế mà khi bàn về nghề văn Pauxtôpxki cho rằng: “Thiên chức của Nhà văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp”, còn Gô- gôn khẳng định” Có những thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của cuộc sống hiện tại thì sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái đẹp.” Bài thơ ” Cảnh ngày hè” (Nguyễn Trãi) và hai truyện ngắn “Người ngựa ngựa người (Nguyễn Công Hoan), ” Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam) chính là những minh chứng sáng giá cho hai nhận định trên.

Hành trình vươn tới nghệ thuật đích thực của người nghệ sĩ là hành trình khám phá những vẻ đẹp của cuộc đời, hình thành nên những giá trị tốt đẹp trong trí nhớ và trái tim người đọc. “Đã là văn chương thì phải đẹp” (Nguyên Ngọc) và đối với Pauxtốpxki cái đẹp đã trở thành bến đỗ cho tâm hồn người nghệ sĩ nuôi dưỡng bao hương thơm và trái ngọt cho cuộc đời. ” Xứ sở của cái đẹp” chính là những vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống con người được nhà văn khẳng định và ca ngợi. Đó còn là sự hòa quyện với lớp ngôn từ lấp lánh, độc đáo. Ngòi bút của nhà văn đã mở ra cho người đọc cái nhìn thẩm mĩ mới mẻ, sâu sắc về cuộc đời, đem đến cho người đọc những giá trị mang tính nhân văn, hướng tới chân -thiện- mỹ. Pauxtopxki đã coi đó là “thiên chức” như một sứ mệnh, nhiệm vụ cao cả khi người nghệ sĩ đến với văn chương. “Người dẫn đường” là người mở ra lối đi ngã rẽ mà trong văn chương người nghệ sĩ đã dùng ngôn từ để vẽ đường đi cho mọi tâm hồn có thể đặt chân vào thế giới của cái đẹp. Nhà văn đã dựng nên một thiên đường, nơi ấy có tiếng ca về những giá trị nhân văn nhân bản, có vẻ đẹp muôn màu của bức tranh hiện thực. Nhưng theo Gô- gôn “có những thời đại”, nhiệm vụ của Nhà văn là “chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa đê tiện của cuộc sống hiện tại”. Đây chính là khi người nghệ sĩ nhìn cuộc đời với những gì trần trụi nhất, tái hiện tất cả những mặt tối tăm mù mịt của bức tranh hiện thực. Tác phẩm văn chương đâu chỉ khoác lên mình chiếc áo choàng lộng lẫy mà nó còn sống với những phần bần tiện, thấp hèn nhất của bộ mặt hiện thực. Nếu không vạch trần được những góc khuất xấu xa, những đám mây u ám đang vây kín bầu trời đẹp đẽ kia thì “sẽ không còn cách nào để hướng xã hội tới cái đẹp”. Pauxtopxki đã nhìn ra một ngả đường khác để người nghệ sĩ hoàn thành trách nhiệm nghệ thuật của mình. Song những trang văn dù có là thiên đường của cái đẹp hay phản chiếu những cái xấu xa, đê tiện thì cuối cùng nó vẫn giúp người đọc nhận ra giá trị đích thực của đời sống. Với cách nói khẳng định của Pauxtôpxki và cách lập luận bác bỏ của Gô- gôn hai nhận định trên đã bổ sung cho nhau nhấn mạnh đặc trưng, giá trị của văn học cũng như để lại cho người nghệ sĩ con đường sáng tạo đúng đắn: Người nghệ với sứ mệnh nghệ thuật của mình có thể dẫn người đọc đến thế giới của cái đẹp nhưng đôi khi lại phản ánh những cái xấu xa, thấp hèn để khẳng định những giá trị chân – thiện – mỹ.

Hai nhận định trên cùng song song bổ sung cho nhau tạo thành một quy luật sáng tạo hài hòa, thống nhất. “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu của nghệ thuật” (Bêlinxki). Đó như một chân lý theo suốt quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Người ta đến với tác phẩm đâu chỉ đơn giản là đón nhận một thành quả lao động nghệ thuật của nhà văn mà còn muốn nhìn thấy được những bài học nhân sinh sâu sắc, hướng đến những hành động có ý nghĩa và thưởng thức những giá trị thẩm mĩ mới mẻ đặc sắc. Bởi vậy mà kết đọng lại trên trang văn của người nghệ sĩ là cái nhìn đầy nhân văn trước cuộc đời, hướng tới những gì chân- thiện- mỹ. Chính người nghệ sĩ đã dùng tài năng và tấm lòng mình đánh động nhiều âm vang trong lòng người đọc, biến quá trình tiếp nhận tác phẩm thành quá trình tự nhận thức, giúp người đọc hoàn thiện bản thân. Vẻ đẹp của lớp ngôn từ độc đáo cùng hòa quyện với vẻ đẹp của bức tranh cuộc sống con người mà nhà văn phản ánh tạo nên một chỉnh thể của cái đẹp mà bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng muốn hướng đến. Nhưng mỗi người lại chọn một lối đi riêng, một cách thức khác nhau để cập đến bến bờ của cái đẹp. Có người trực tiếp ca ngợi cái đẹp, có người lại bắt đầu từ những mặt tối tăm nhất của cuộc sống. Vì “cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu) nhưng bức tranh hiện thực lại vô cùng phong phú và phức tạp. Nó tồn tại nhiều mảng đối lập khó hiểu cần có đôi mắt tinh tế để lý giải, thấu hiểu. Và mỗi tâm hồn, mỗi con mắt, mỗi trái tim lại có cách khám phá hiện thực theo con đường khác nhau. Người nghệ sĩ có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau để nhìn cuộc đời, có những rung động những khoái cảm nghệ thuật riêng biệt không trùng lặp bất kì ai. Hơn nữa, mảnh đất gieo nguồn cảm hứng cũng do người nghệ sĩ lựa chọn nên mỗi tác phẩm lại có những màu sắc không giống nhau. Có lẽ đây cũng là cơ sở để tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà văn. Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của nhà văn, là gương mặt đại diện cho bao tư tưởng, quan niệm mà nhà văn ấp ủ. Vì thế nó thể hiện cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, không lặp lại ai và không lặp lại chính mình. Cũng bởi vậy nên mỗi tác phẩm không chỉ là bản nhạc du dương ca ngợi cái đẹp mà còn có những gì xấu xa, những gì tăm tối của bức tranh hiện thực. Tưởng chừng như đối lập nhưng thực chất nhận định của Pauxtôpxki và Gô- gôn cùng hòa hợp tạo thành quan điểm sáng tạo đúng đắn, hoàn chỉnh. Những gì đẹp đẽ sẽ hấp dẫn người đọc ngay từ lần đầu tiên cũng giống như những tác phẩm “xứ sở của cái đẹp” sẽ dễ dàng cuốn hút người đọc muốn khám phá và cảm nhận. Nhưng với những trang văn chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa đê tiện người đọc lại có một quá trình tự nhận thức đi từ bóng tối đến ánh sáng, từ vũng bùn lầy đến với những vẻ đẹp nhân văn nhân bản. Quả thực hay nhận định trên đã gắn bó và bện chặt vào nhau.

Trong dòng chảy văn học dân tộc, bài thơ “Cảnh ngày hè” (Nguyễn Trãi) cùng với hai truyện ngắn “Người ngựa, ngựa người” (Nguyễn Công Hoan) và “Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam) chính là những minh chứng rõ ràng cho hai nhận định trên. “Cảnh ngày hè” thuộc bài 43 trong “Quốc âm thi tập” được sáng tác trong thời điểm cuối hè khi Nguyễn Trãi đang trông coi chùa Côn Sơn. Bài thơ vừa khắc họa bức tranh ngày hè rực rỡ, căng tràn sức sống vừa thể hiện tấm lòng “ưu dân ái quốc” của một nhà nho yêu nước. Truyện ngắn “Người ngựa ngựa người” ra đời năm 1931 là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan. Đó là cuộc “kỳ ngộ” của hai mảnh đời bất hạnh hiện ra trên trang văn của Nguyễn Công Hoan đầy xúc động. Còn “Nhà mẹ Lê” nằm trong tập truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” (1937) miêu tả chân thực cuộc sống nghèo khổ khốn khó của tầng lớp bình dân trong xã hội cũ qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam. Mỗi người nghệ sĩ dù chọn những ngã rẽ khác nhau để hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật của mình nhưng đều hướng đến những vẻ đẹp của cuộc sống con người đem đến cho người đọc nhiều bài học “trông, nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam)

Có những người nghệ sĩ đã mở ra cánh cửa của “xứ sở cái đẹp” trong chính những áng thi ca, những trang văn chương của mình để làm nên sức sống riêng cho tác phẩm. Với “Cảnh ngày hè” Nguyễn Trãi đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một người nghệ sĩ chân chính giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp cuộc đời. Thi nhân đã tái hiện vẻ đẹp của bức tranh cuộc sống và để lại trong lòng người đọc vẻ đẹp của một tâm hồn đáng trân trọng. Nguyễn Trãi thực sự đã dẫn người đọc vào một thiên đường với sức sống rạo rực chất chứa trong từng cảnh vật:

” Hòe lực đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Thiên nhiên trong cảm nhận của thi nhân dường như đang ở độ căng tràn, tròn đầy nhất, đua nhau khoe sắc tỏa hương. “Đùn đùn” là dồn dập, tuôn ra kết hợp với từ “giương” đã làm hiện ra trước mắt người đọc hình ảnh cây hòe xanh thẫm đang vươn đã mãi ra như muốn vượt ra khỏi khuôn khổ. Ngoài hiên, cây lựu đang đồng loạt trổ hoa đỏ thắm. Động từ “phun” khiến người đọc hình dung những bông hoa lựu li ti như những chiếc đèn lồng nhỏ xíu mà tuôn ra một sức sống mạnh mẽ có thể đốt cháy thành những đốm lửa rực rỡ. Hoa sen hồng trong ao tỏa ra thứ hương thơm ngát chạm vào khứu giác người đọc. “Tiễn” là từ Nôm cổ chỉ sự đầy tràn, dư ra, đặt trong câu thơ của Nguyễn Trãi nó gợi lên một chất sống mãnh liệt đang được dồn nén, chất chứa từ bên trong tạo vật. Cấu trúc “còn …đã” thể hiện sự nối tiếp không ngừng của cảnh vật chúng như thể đua nhau, chen nhau bùng lên sức sống cho cuộc đời. Cái tinh tế của Nguyễn Trãi là đã phát hiện ra một nhịp đập vô hình hối thúc từ bên trong tạo vật chứ không đơn thuần là miêu tả màu sắc, đường nét, dáng điệu, cảnh thiên nhiên. Phải chăng đó chính là sự hòa hợp giữa vẻ đẹp người thi sĩ đầy lãng mạn và tâm hồn lộng gió của một bậc anh hùng. Tự bao giờ ta đã lạc vào không gian của thiên nhiên ngày hè căng tràn nhựa sống, rực rỡ sắc màu để lại trong lòng người cảm xúc vương vấn ngỡ như đang lạc vào thiên đường trên mặt đất…

Bức tranh càng ngày càng sắc nét, đẹp đẽ hơn khi Nguyễn Trãi phác họa vẻ đẹp của cuộc sống con người. Tâm hồn người đọc lại đặt chân lên một nấc thang của “xứ sở cái đẹp” để mở thêm những cánh cửa về âm thanh và ánh sáng:

” Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm về lâu tịch dương”

Đó là cuộc sống bình dị đời thường, một cuộc sống bình yên ở làng chài ven biển. Thời gian đã trở về chiều nhưng tiếng chợ cá vẫn còn “lao xao”, mặt trời sắp lặn nhưng vẫn còn vương vấn lại một vài tia nắng trên lầu vắng. “Lao xao” là âm thanh nhộn nhịp, rộn rã như biểu trưng cho sức sống, cho cuộc sống ấm no hạnh phúc. Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật không khí nhộn nhịp nơi làng quê. Thi nhân như đăng căng tất cả các giác quan để lắng nghe cuộc đời với tiếng lòng trìu mến, như đang cảm nhận từng âm thanh, vũ điệu cuộc sống. Tiếng ve kêu như một dàn đồng ca hòa với âm thanh của tiếng đàn cầm làm cho bức tranh mùa hè càng thêm vui tươi, giàu sức sống. Vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người cứ từng nét hiện ra trước mắt người đọc sống động đến từng chi tiết. “Xứ sở của cái đẹp” cũng dần được người đọc khám phá và cảm nhận một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất.

Nhưng “xứ sở cái đẹp” trong bài thơ “Cảnh ngày hè” còn hiện lên ở vẻ đẹp tâm hồn của một con người “ưu dân ái quốc”. Bài thơ toát lên những ánh sáng lấp lánh của nỗi lòng yêu nước thương dân:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đời phương”

Cả đời thi nhân Nguyễn Trãi vẫn không lúc nào nguôi ngoai nỗi lo cho nước, cho dân. Điển tích “Ngu cầm” gợi lên hình ảnh cây đàn của vua Ngu Thuấn ca lên khúc “Nam Phong” là biểu tượng cho đất nước thái bình, thịnh trị, no đủ. Nhà thơ chỉ mong có được cây đàn ấy để cầu cho mưa thuận gió hòa, nhân dân no đủ. Mạch thơ từ 7 chữ chuyển thành sáu chữ kết hợp với nhịp thơ 3/3 tạo âm điệu đột ngột thay đổi như một sự dồn nén của cảm xúc. Ước nguyện của thi nhân thật bình dị mà làm ấm lòng người cảm nhận để ta thêm thấu hiểu nỗi lo đời rất mực cao cả thiêng liêng của thi sĩ. Cả đời Nguyễn Trãi chỉ mong làm sao cho nơi nơi từ hang cùng ngõ vắng không còn tiếng hờn giận, oán sầu. Có lẽ cái đẹp trong tâm hồn chính là điểm kết tụ lại trong bài thơ “Cảnh ngày hè”. Nguyễn Trãi đã dẫn người đọc Khám phá xứ sở của cái đẹp để rồi đọng lại trong tâm hồn ta là tình yêu thiên nhiên tha thiết, là niềm trân trọng với một tấm lòng “ưu dân ái quốc”. Bức tranh cảnh ngày ngày sinh động, giàu sức sống đã đánh động niềm say mê với cuộc đời của người đọc. Và hơn bao giờ hết, tác phẩm khép lại nhưng vẫn còn ngân vang dư âm của tình yêu tổ quốc, yêu đất nước, yêu quê hương. Từ vẻ đẹp trong bài thơ, Nguyễn Trãi đã gợi lên trong lòng người đọc một thế giới của cái đẹp, của những tình cảm nhân văn sâu sắc.

Nhưng, lại có những người nghệ sĩ nhìn thẳng vào những mảng màu đen tối của hiện thực, lột tả tận cùng bộ mặt của cái xấu xa, đê tiện bởi “cái đen là cuộc sống” (Secnusepxki). Truyện ngắn “Người ngựa ngựa người” của Nguyễn Công Hoan đã phản ánh bộ mặt dửng dưng, lạnh lùng xã hội trước nỗi khổ của con người, chính cảnh nghèo đói, chật vật đã đẩy những con người cùng khổ vào sự vô tình, tha hóa. Nhân vật anh phu xe nhà nghèo vì muốn kiếm tiền lo cho gia đình để không phải chịu cái đói khi năm hết Tết đến mà phải làm việc trong đêm giao thừa: “anh ấy vừa mới ốm dậy, ốm một trận tưởng mười mươi chết, thành ra không những mất một dịp kiếm tiền vào lúc cuối năm, mà bao nhiêu tiền dành dụm trong bấy lâu, sạch sành sanh cả. Bởi vậy hôm nay, anh ấy cố vay được cái vốn để đi mua xe, kiếm bữa gạo để ăn tết”. Trong khoảng thời gian mà người ta trở về gia đình để sum họp thì anh vẫn ở nơi phố huyện lạnh lẽo mà đợi khách. ” Thỉnh thoảng anh ta dỏng tai quay cổ xem có ai gọi ở đằng xa không”. Anh hi vọng, anh chờ đợi nhưng xã hội vô tình vẫn chẳng thể cho anh chút tình người. Thế rồi cái số phận đáng thương ấy lại gặp một kẻ cùng đường chẳng hơn gì anh. Cô gái giang hồ là vị khách mang đến cho anh phu xe niềm vui mừng, niềm hi vọng. Ấy vậy mà trớ trêu thay con người ấy cũng chẳng có một xu dính túi, đã không trả tiền anh mà lại còn ăn của anh hai đồng bạc. Bị đẩy vào bước đường cùng, anh phu xe phải kéo cô gái giang hồ đi khắp các nhà Săm tìm khách nhưng 30 Tết người ta cũng đều trở về với gia đình cả rồi. Có lẽ người ta cũng bận lo cho cuộc sống của mình chẳng còn ai quan tâm vẫn còn hai con người khốn khổ đang chờ đợi vài đồng bạc về ăn tết. Cô gái giang hồ “thả mồi” cũng chỉ nhận lại sự phớt lờ: “Tôi không biết, cô hỏi thăm anh xe này cũng được. Tôi còn vội đi mời đốc tờ cho vợ tôi ốm đây!”. Đến lúc cùng đường bế tắc, cô gái giang hồ đánh tìm cách bỏ trốn. Cô lừa anh vào nhà săm vay tiền rồi luồn qua cửa sau đi mất. Hai số phận nghèo khổ gặp nhau lại càng gây thêm cho nhau những tổn thương khổ sở. Trong cái xã hội ấy dường những người ta chẳng bao giờ để ý đến những thân phận nghèo khổ, những kiếp người bi đát ngoài kia. Những con người vô tình trong xã hội ấy chẳng những không cứu vớt, cưu mang những số phận nghèo khổ mà còn xua đuổi họ. Anh phu xe vào nhà săm tìm cô gái giang hồ, biết đã để cho con nợ trốn mất anh bằng hoàng rồi lại bị người bồi săm đánh tan giấc chiêm bao và xua đuổi: “Đi cho người ta đóng cửa. Ai bảo anh xông nhà cho tôi? Năm mới đừng bí beng!”. Đến lúc này anh chỉ biết “nghiến răng, cau mặt, lủi thủi ra hè, cầm cái đệm quật mạnh vào hòm đánh thình một cái!”. Cái kiếp khốn khổ của anh cũng chẳng ai thương mà ngược lại họ còn khinh thường, dửng dưng với anh. Anh phu xe về nhà mà không một xu dính túi, anh lại trở về với cái đói nghèo khốn cùng nhất ngay trong những ngày tết. Phải chăng cô gái giang hồ kia cũng là nạn nhân của xã hội bạc bẽo vô tình. Nguyễn Công Hoan đã lột tả bộ mặt xấu xa, lạnh lùng, thiếu tình người của xã hội lúc mấy giờ một cách chân thực mà chua xót. Văn chương quả thực không phải lúc nào cũng là màu hồng mà nó còn là những mảng màu đen tối, nó phơi bày những gì xấu xa, đê tiện nhất của cuộc sống hiện tại.

Và vẫn có những tác phẩm ánh lên vẻ đẹp từ bên trong tâm hồn có vỏ bọc không hoàn mĩ, vẫn có người nghệ sĩ khơi gợi cái đẹp từ trong những cái có vẻ ngoài xấu xí, khó nhìn. Nhân vật mẹ Lê trong truyện ngắn “Nhà mẹ Lê” của Thạch Lam tuy có vẻ ngoài xấu xí nhưng lại mang những vẻ đẹp đáng trân trọng. Mẹ Lê có thân hình của một người đàn bà quê “chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay dăn deo như một quả trám khô”. Mẹ Lê lại là dân ngự cư lê thành phố, “khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: Mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi, đứa bé nhất hãy còn phải bế trên tay”. Khi cuộc sống rơi vào cảnh đói nghèo cùng cực, mẹ Lê đành phải đi xin gạo ở nhà ông Bá. Dẫu biết ông Bá không cho nhưng bà vẫn cố hi vọng vào cái cơ hội mong manh ấy vì “không có thì lấy gạo đâu mà ăn”. Mẹ Lê đã bất chấp mạng sống của mình, bỏ đi cái gọi là danh dự để cố sang xin được biếng cơm cho đàn con. Và để rồi khi về đến nhà, thì đàn con nhìn thấy mẹ mình “máu đỏ chảy ròng ròng”. Mẹ Lê đã ra đi chỉ hai ngày sau đó bỏ lại đàn con thơ không biết trông cậy vào ai. Cái chết của bà để lại những khuôn mặt ngơ ngác của 11 đứa con không còn chỗ nương tựa. Đằng sau con người bất chấp mạng sống xin ăn ấy là vẻ đẹp của người mẹ tần tảo, nhọc nhằn và một con người lạc quan. Cuộc sống mưu sinh khó khăn là thế nhưng bà vẫn cố chăm chỉ, tần tảo, chịu thương chịu khó làm thuê cho nhà khác để nuôi 11 đứa con. Mẹ Lê luôn yêu con hết mực, hi sinh tất cả vì con kể cả cái chết. Bà vẫn hay nói đùa rằng nếu con bà lạc mất thì “Bớt đi cho đỡ tội”. Sự liều mạng sang nhà ông Bá xin gạo của mẹ Lê chẳng phải đều là muốn các con không phải nhịn đói hay sao? Tình yêu thương của người mẹ ấy lớn lao, vĩ đại vô cùng, thiêng liêng như dòng suối ngọt lành tưới mát tâm hồn đàn con thơ. Mạng sống đối với mẹ Lê đã chẳng còn quan trọng bằng việc các con có cơm ăn. Ở con người ấy, ta còn thấy được niềm lạc quan dù trong hoàn cảnh khốn khó tận cùng. Bà không hề kêu ca, không than vãn một lời vì cuộc sống nghèo khổ, đối với bà hạnh phúc là chỉ cần những đứa con được ăn no, được vui vẻ bên nhau: “Tuy vậy, cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng”. Giây phút họ có những tiếng cười bên nhau thật hiếm hoi nhưng thật yên bình và đẹp đẽ biết mấy. Những kiếp người ấy tuy nghèo khổ, khó khăn nhưng vẫn ngời lên những vẻ đẹp phẩm chất đáng trân trọng, để lại trong lòng người đọc những suy ngẫm về cái đẹp khuất lấp trong nội tâm con người. Thạch Lam đã đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn của con người. Ở nơi phố huyện nghèo, ở một ngõ ngách nào đấy vẫn có những con người tuy mang vẻ ngoài xấu xí, khó nhìn nhưng nội tâm lại đẹp đẽ vô ngần. Người nghệ sĩ cũng thật khéo léo khi khơi gợi được cái đẹp từ vẻ ngoài những gì khó nhìn, không hoàn hảo. Đó chính là tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn hòa quyện trong tài năng nghệ thuật độc đáo.

Dù miêu tả cái đẹp ngay trong lớp ngôn từ hay khơi gợi từ cái xấu xí, khó nhìn thậm chí là phản chiếu toàn bộ bộ mặt bần tiện, xấu xa của hiện thực thì mỗi tác phẩm cũng mang những vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật đặc sắc thể hiện cá tính sáng tạo của từng nghệ sĩ. “Cảnh ngày hè” có kết cấu đầu cuối tương ứng, tạo nên sự hoàn chỉnh cho bài thơ. Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều tính từ, động từ mạnh, nghệ thuật đảo trật tự cú pháp tạo ấn tượng sâu sắc với người đọc. Điển tích được sử dụng rất khéo, giọng thơ khi dồn dập miêu tả sức sống căng tràn của cảnh vật, khi trầm lắng bởi những tâm tư… Đến với “Người ngựa ngựa người” ta thấy được cách tạo dựng tình huống truyện vô cùng độc đáo, đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả cái bi và cái hài của Nguyễn Công Hoan. Nhà văn đã khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói… Nhưng nhờ vậy mà những cung bậc cả xúc khó diễn tả của nhân vật đều được bộc lộ. Ngôn ngữ trong “Người ngựa ngựa người” gần gũi với đời thường, mang đậm tính khẩu ngữ. Còn “Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam) lại có cách sắp xếp cốt truyện đơn giản, ít kịch tính nhưng lại rất cuốn hút làm nổi bật số phận và vẻ đẹp tâm hồn nhân vật. Bút pháp của nhà văn vừa tả thực vừa lãng mạn, giọng văn nhẹ nhàng, trầm lắng man mác niềm cảm thương. Ngôn ngữ không sắc nhọn mà thuần hậu, tinh tế mà có độ chính xác cao… Nhờ những vẻ đẹp của hình thức mà nội dung tư tưởng của tác phẩm đã được cất cánh bay cao đi đến chân trời nghệ thuật đích thực.

Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều hướng tới cái đẹp, cái thiện, những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Và người đọc sẽ là người khám phá, mở ra từng cánh cửa nghệ thuật, biến quá trình tiếp nhận tác phẩm thành quá trình tự nhận thức của chính mình. Hơn bao giờ hết, người nghệ sĩ chính là người dẫn đường cho bạn đọc và cũng là người dám vạch trần những cái xấu xa, xảo trá, bần tiện của đời sống hiện tại. Văn chương nhờ vậy mà vừa là những tiếng ca ngợi vừa là tiếng thét khổ đau của con người trong cuộc sống muôn hình vạn trạng. Đến với văn chương người nghệ sĩ trước hết phải ý thức được sứ mệnh của mình, biết rung động trước cái đẹp, biết cảm thông trước những cuộc đời bất hạnh, biết phẫn nộ trước cái xấu xa bỉ ổi… để rồi đem đến cho bạn đọc sự thưởng thức thẩm mỹ nghệ thuật và những giá trị nhân văn cao đẹp. Còn đối với người đọc, hãy đọc bằng cả trái tim mình, bằng con mắt chiêm ngưỡng nghệ thuật tinh tế và trân trọng sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ. Những vẻ đẹp toát lên trong bài thơ “Cảnh ngày hè” (Nguyễn Trãi) và hai truyện ngắn “Người ngựa ngựa người” (Nguyễn Công Hoan), “Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam) sẽ còn để lại trong trí nhớ người đọc nhiều cái nhìn khác nhau về thế giới của cái đẹp, về hiện thực đời sống. Ba tác giả đã in dấu phong cách nghệ thuật của mình trên chặng đường văn học, khẳng định vị trí của mình trong trái tim của người cảm nhận, họ đã mở ra cho lớp người đi sau những quan điểm sáng tạo đúng đắn.

“Văn học, đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng” (Charles Dubos). Ta nhìn thấy được những tư tưởng sâu sắc của nhà văn, cảm nhận được những vẻ đẹp trong tác phẩm cũng là khi người nghệ sĩ đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Với những nghệ sĩ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Hoan và Thạch Lam, họ hoàn thành nhiệm vụ với nghệ thuật nhưng dấu ấn của họ thì mãi mãi không bao giờ phai nhạt. Người nghệ sĩ chân chính và tài hoa cũng chính là người ở lại lâu nhất trong lòng độc giả. Và dù đến như một người dẫn đường hay làm nên những bản tố cáo hiện thực thì mỗi người nghệ sĩ cũng làm nên những giá trị lớn lao có tác động mạnh mẽ đến hiện thực, đến thời đại.

(Bài viết của học sinh lớp 12 chuyên Văn)

Đề 2. Văn học không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình.

Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên qua các tác phẩm trong và ngoài chương trình.

Bài làm

Nhà nghiên cứu nghệ thuật M.Xan tư –cốp –sê – đrin đã từng nói rằng: “Nghệ thuật chân chính nằm ngoài sự tác động của các quy luật băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Nghệ thuật nói chung các tác phẩm văn chương nói riêng bao giờ cũng đủ sức đứng vững giữa dòng thời gian nghiệt ngã và bám rễ sâu chắc nơi mảnh đất tâm hồn con người nếu nó mang lại cho người đọc những giá trị thẩm mỹ, nhân văn cao đẹp và được ươm mầm, nảy nở từ trái tim của người nghệ sĩ để tạo nên những cuộc đối thoại. Nói về điều ấy cũng đã từng có ý kiến cho rằng: “Văn học không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình”.

Tác phẩm nghệ thuật ra đời muốn có sức sống và giá trị lâu bền phải “khơi dậy sự  đồng cảm” nghĩa là tác động vào tâm hồn người đọc, bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp mang giá trị nhân văn cao cả. Giúp con người biết cảm thông, chia sẻ, thấu hiểu và  lay thức ở họ lòng trắc ẩn cao đẹp. Nhưng “văn học không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật , đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình”. Tác phẩm văn chương ra đời thực chất là tạo ra những cuộc giao tiếp ngầm với bạn đọc ,để người đọc tự tranh luận, chất vấn và tìm ra câu trả lời cho chính mình. Nhận định đã đã đề cập đến hai  đặc trưng văn học và hướng đến khả năng đối thoại của tác phẩm nghệ thuật chân chính.

Văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh hiện thực thông qua hình tượng nghệ thuật. Thế giới hình tượng trong tác phẩm được xây dựng sống động, lắng lọc qua cảm xúc thẩm mỹ và chất chứa tâm tư, tình cảm, thái độ của người cầm bút. Văn học có khả năng hướng thiện và “nâng cao tinh thần con người”, là nấc thang nâng đỡ, “gợi lên những tình cảm cao quý và can đảm để người đọc tự hoàn thiện mình. Tác phẩm nghệ thuật chân chính không phải là những thuyết lý khô khan, giáo điều mà là “ tấm thảm ngôn từ kì diệu “ tác động vào tâm hồn ,nhận thức của  bạn đọc, khơi dậy ở họ những tình cảm nhân bản ,nhân văn cao đẹp. Bởi “văn học làm con người thêm phong phú, tạo khả năng để con người lớn lên và hiểu con người nhiều hơn Kalinine. Nhưng đến với người đọc, tác phẩm nghệ thuật chân chính “không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại với nhà văn và đối thoại với chính mình”. Tìm đến văn học cũng là lúc người đọc tìm cho mình sợi dây đồng điệu và khám phá cánh cửa bước vào thế giới tâm hồn nhà văn thông qua những cuộc giao tiếp ngầm. Từ đó tạo nên những tranh luận, chất vấn trong bạn đọc để họ tự nhận thức và đối thoại, như GS. Trần Nho Thìn cũng đã từng nhận định “sáng tác văn học thực chất là một sự hồi đáp”. “Khơi dậy sự đồng cảm “ là cơ sở để văn học “cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại”, chỉ khi được thấu hiểu, cảm thông và lay thức lòng trắc ẩn người đọc mới có khả năng nhận thức để đối thoại. Hơn thế khi tạo ra những cuộc giao tiếp ngầm, tác phẩm nghệ thuật cũng giúp ta có thêm những tình cảm đáng quý, sâu sắc và mới mẻ hơn để có thể tự hoàn thiện mình .

Trước hết “văn học có khả năng khơi dậy sự đồng cảm” và lay thức ở người đọc lòng trắc ẩn. Đó là khả năng giúp bạn đọc biết cảm thông và thấu hiểu trước thân phận cùng bi kịch của những kiếp người bị đày đọa. Đến với “Truyện Kiều” người đọc cũng thật xót xa trước cuộc đời của người con gái tài hoa mà bạc mệnh là Thúy Kiều khi phải đối diện với bi kịch tình yêu tan vỡ :

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung

Nguyễn Du đã nhập vai vào nhân vật để diễn tả sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của Thúy Kiều và giúp người đọc càng thấu hiểu, xót xa cho thân phận của người con gái bạc mệnh. Thúy Kiều trao duyên cho em nhưng không muốn trao đi kỉ vật, trao duyên nhưng không thể trao đi tình nghĩa sâu nặng với Kim Trọng và thậm chí duyên dã trao mà tình càng thêm nặng. Ngay cả khi quay trở về đối diện với chính mình, Thúy Kiều cũng chỉ thấy bao trùm tâm hồn mình là nỗi đau đớn ,day dứt là tâm trạng nuối tiếc khôn nguôi:

Bây giờ trâm gãy gương tan

Kể làm sao siết muôn vàn ái ân

Trâm” và “gương” là những kỉ vật gắn liền với tình yêu đôi lứa ,là tượng trưng cho những tình cảm thắm thiết, mặn nồng. Hình ảnh “trâm gãy gương tan” vì thế cũng là biểu trưng cho tình yêu tan vỡ. Dưới ngòi bút của mình, Nguyễn Du đã diễn tả tận cùng nỗi đau của nhân vật, ghi lại từng khoảnh khắc đớn đau , khắc khoải của Thúy Kiều khi phải đối diện với bi kịch tình yêu bị đứt đoạn, duyên tình bị lỡ dở để khơi dậy ở người đọc tấm lòng cảm thông, thương xót cho số kiếp của những con người tài hoa mà bạc mệnh .

Không chỉ đồng cảm với những kiếp người bị đọa đầy trong xã hội cũ ,tìm đến những vần thơ trong bài “Khâm Thiên’’ của Lưu Quang Vũ người đọc cũng  càng thêm xót xa ,đau đớn trước hiện thực thảm khốc, bi thương của phố Khâm Thiên sau trận ném bom kinh hoàng :

Những người chết trong đêm thân gãy nát

            Óc chảy ròng trên gạch

Những người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng

Tay chân vặt vẹo thịt xương

Lòng ruột mắc trên dây điện

Phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp

Tiếng người la khủng khiếp đêm dài “

Tác giả đã tái hiện một cách chân thực hiện thực chiến tranh cùng nỗi đau và sự mất mát của con người sau thảm cảnh bằng bút pháp tả chân, sử dụng những hình ảnh chân thực “thân gãy nát”, “óc chảy ròng trên gạch”, “người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng”, “tay chân vặn vẹo thịt xương”, “lòng ruột mắc trên dây điện”. Dưới ngòi bút của mình, Lưu Quang Vũ đã diễn tả một cách rùng rợn đến gai người về cảnh tượng chết chóc của phố Khâm Thiên. Người chết không còn được toàn vẹn, cả không gian chìm trong không khí tang tóc, hoang tàn. Chiến tranh đã gây ra tội ác khủng khiếp, nó làm những đứa trẻ thơ thành mồ côi , trong ánh mắt ngây thơ của các em đã hằn sâu nỗi đau mất người thân. Người lớn trở nên điên dại vì chứng kiến cảnh tượng ghê sợ. Đây như một cơn địa chấn khủng khiếp, không gì có thể bù đắp lại những tổn thương trong tâm lý, sự sống của con người. Bài thơ đã chạm đến trái tim người đọc bởi những ám ảnh hết sức tang thương ,đau đớn về con người khi phải chịu đựng thảm họa do chiến tranh gây ra và còn bởi tác phẩm đã lay thức tâm hồn người đọc niềm đồng cảm, xót thương sâu sắc trước tình cảnh của người dân sau chiến tranh.

Không chỉ khơi dậy sự đồng cảm, xót thương sâu sắc trước thân phận và nỗi đau của con người mà văn học còn giúp người đọc biết nâng niu, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, phẩm giá của con người ngay trong những hoàn cảnh bi kịch nhất. Bằng cái nhìn ưu ái và tấm lòng nhân đạo cao cả của mình, Nguyễn Du cũng đã xây dựng hình tượng nhân vật Thúy Kiều hiện lên với những vẻ đẹp phẩm chất sáng ngời. Trong hoàn cảnh bi thương, Thúy Kiều vẫn hiện lên là một cô gái thông minh, sắc sảo và có nghị lực sống phi thường khi cố gắng nén lại nỗi đau trong lòng để lựa lời thuyết phục Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Trong lời thuyết phục ấy vừa thấu tình vừa đạt lý nhưng cũng ẩn chứa sự biết ơn và cảm phục trước sự hy sinh của Thúy Vân:

Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

         Giữa đường đứt gánh tương tư

     Kem loan chắp mối tơ thừa mặc em

Thúy Kiều đã cố gắng lựa lời thuyết phục em thay mình nối mối duyên tơ đứt đoạn , nàng không nói “nhờ em “ mà lại là “ cậy em “như ẩn chứa cả niềm hy vọng , sự ủy thác và gửi gắm thiêng liêng đến Thúy Vân. Nàng cũng từ bỏ tôn ti trật tự và lễ giáo phong kến để “lạy’’ “ thưa’’ em và đặt mình trong vai của người mang ơn , nặng nợ. Lời thuyết phục của Thúy KIều vừa khéo léo nghĩa tình , vừa van nài ướm hỏi đã đặt Thúy Vân vào hoàn cảnh mặc nhiên không thể chối từ, thể hiện những vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của một người con gái mặn mà, sắc sảo . Dù đang phả đối diện với bi kịch tình yêu tan vỡ đầy đau đớn khôn nguôi, nhưng không lúc nào nàng nghĩ cho bản thân mình mà chỉ lo lắng cho hạnh phúc của người mình yêu. Ngay cả khi đối diện với nỗi đau trong thực tại và đối thoại với Kim Trọng  trong tâm tưởng, nàng cũng luôn tự thấy mình là kẻ phụ bạc :

Ôi Kim Lang ,hỡi Kim Lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

Đến với tiểu thuyết “Bay trên tổ chim cúc cu” của Kenneth Elton Kesey, người đọc cũng được thấu hiểu những thủ đoạn tàn độc của liên hợp nơi nhà thương binh, sự yếu ớt gần như điên loạn của những phận người bé nhỏ và hơn hết là sức sống đơn lẻ mà mạnh mẽ, kiên cường của McMurphy để càng thêm trân trọng khát vọng tự do và tinh thần phản kháng của con người. Ý nghĩa của tác phẩm nằm ở con người tự do – McMurphy. Ý thức tự do hun đúc từ trong vẻ bề ngoài cứng cỏi, xờm xoàm, từ vết sẹo chạy ngang ở sống mũi đến gò má còn chưa lành lại. Cái chất ngang tàn, phóng túng nằm trong chính cuộc đời của hắn, cái cuộc đời của kẻ lang thang, vô gia cư, nay đây mai đó trên các nông trường rồi làm lính, rồi băng qua không biết bao nhiêu trại cải tạo và nhà tù địa phương. Đôi bàn tay hắn “bàn tay đã từng làm việc trong các gác ga ra, móng tay cáu bẩn… lòng bàn tay phẳng, chắc chắn, cứng cáp như một tấm gỗ, đã rắn lại vì cầm búa, cầm rìu …’’ là minh chứng sống động cho một cuộc đời tự do không gì cản nổi. Dù vào nhà thương điên, tinh thần tự do vẫ sôi sục trong con người hắn, thôi  thúc McMurphy kháng cự lại những nguyên tắc chói buộc mà bà y tá Trưởng đề ra . Bởi Murphy hiểu được rằng, hắn là hắn, một con người có lý tưởng được trở thành thợ chơi poker, không chấp nhận ràng buộc, có cá tính, có sức mạnh và sẵn sàng rửa hận cho mình bất cứ lúc nào mà không bị va vấp bởi hàng mớ đạo luật.

Nhưng “văn học không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình”. Đến với “Truyện Kiều” ta không chỉ cảm thông, xót xa trước thân phận của Thúy Kiều mà còn như được trò chuyện, đối thoại với chính nhân vật để thấu hiểu diễn biến tâm trạng sâu sắc của người con gái tài hoa mà bạc mệnh :

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai “

Thúy Kiều tưởng tượng ra tương lai hạnh phúc của Thúy Vân và Kim Trọng  còn mình thì trở về trong khói hương nghi ngút, trong dìu dặt phím tơ, trong sự lay động của lá cây, ngọn cỏ. Đó là một nỗi đau đớn, dằn vặt, là hoàn cảnh thảm thương, thê thiết hiện ra trong tâm tưởng của nàng. Thúy Kiều tưởng tượng hồn của mình còn hàm oan, không thể siêu thoát và vẫn còn mang nặng lời thề nghĩa tình thủy chung son sắt với chàng Kim, dù xuống cõi âm hư vô, chìm tối nhưng vẫn còn vẹn nguyên một khát khao tình yêu mãnh liệt. Qua mỗi trang thơ trong tác phẩm, người đọc dường như cảm thấy mình được đối thoại, trò chuyện trực tiếp với nhân vật để thấu hiểu và cảm nhận hết những khóc khuất sâu kín trong tâm hồn người con gái bạc bệnh ấy.

Đối thoại và trò chuyện với nhân vật trong tác phẩm, người đọc cũng được thấu hiểu và lắng lòng mình trong dòng cảm xúc miên man của nhân vât trữ tình qua bài thơ “Trăng vàng trăng ngọc“của Hàn Mặc Tử.

Trăng , trăng , trăng , Là trăng , trăng , trăng

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Không bán đoàn viên , ước hẹn hò …

Bao giờ đậu trạng vinh quy đã

Anh lại đây tôi thối chữ thơ’’

Chìm vào cõi đau đớn và mộng mị, chưa từ biệt cuộc đời bởi căn bệnh quái ác thì Hàn Mặc Tử đã muốn từ bỏ cuộc đời bởi sự cô đơn vò xé. Chỉ có vầng trăng trên cao, chỉ có thứ ánh sáng thanh khiết kia mới vớt vát được sự sống còn lại trong tâm hồn. Vầng trăng với vẻ đẹp dịu dàng, tinh nhẹ của nó được nhìn nhận thật sinh động, hiện lên  như một món đồ để dao bán. Hàn Mặc Tử như đang reo to với mọi người , ta ngỡ như nhà thơ đang nhảy nhót vui tươi, như điên cuồng nói “Ai mua trăng tôi bán trăng cho”. Trăng nào của riêng Hàn Mặc Tử ? Nhưng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử lại là một góc rất riêng của thi nhân . Trăng lung linh huyền ảo , trăng dát vàng lên muôn vật , muôn loài và cũng tỏa sáng làm ấp áp hồn người. Với một người mặc cảm, đau đớn trong chính cuộc sống của mình như Hàn Mặc Tử thì trăng như “chiếc phao cứu sinh”, như chiếc thuyền nhỏ lênh đênh mà vớt vát những gì còn lại của sự sống. Đến với “Trăng vàng trăng ngọc” người đọc như được sống cùng tâm trạng, tiếng lòng của thi nhân để cảm thấu hết sự rung động chân thành của người nghệ sĩ tận tâm, tận lòng với cái đẹp, tôn thờ và gìn giữ cái đẹp của trăng đến mức ám ảnh, day dứt mãi khôn nguôi .

Cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại và giao tiếp ngầm, văn học còn giúp người đọc được đối thoại với nhà văn để cảm nhận hết những tâm tư, tình cảm sâu kín cùng tài năng và quan niệm của người nghệ sĩ. Đến với “Truyện Kiều” ta cũng thêm thấu hiểu được cái tâm và cái tài của một đại thi hào dân tộc. Đó là ngòi bút miêu tả diễn biếm tâm lý nhân vật sâu sắc, là nghệ thuật đối được sử dụng một cách tài tình , linh hoạt cùng hệ thống những hình ảnh ước lệ, tượng trưng được nhà thơ vận dụng một cách sáng tạo và độc đáo để tạo nên một kiệt tác văn học có giá trị. Nhưng “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” , chính “đôi mắt nhìn xuyên sáu cõi “cùng tấm lòng” nghĩ tới nghìn đời” đã đưa ông trở thành một nhà thơ và một nhà nhân đạo lớn. Dưới ngòi bút của mình, Nguyễn Du cũng gửi gắm đến người đọc những đánh giá và cách nhìn nhận mới mẻ sâu sắc về thân phận của những người kĩ nữ chốn lầu xanh. Với ông  họ chỉ là những nạn nhân bị đọa đày bởi kiếp phong trần “Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.  Bằng cái nhìn ưu ái và tấm lòng nhân đạo của mình, nhà thơ cũng quan niệm về chữ trinh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến mang đầy tính nhân văn, nhân bản: “ Chữ trinh kia cũng có năm bảy đường”. Cũng vì vậy mà trải qua mười lăm năm lưu lạc, bị đầy đọa và đẩy vào dòng đời ô nhục nhưng Thúy Kiều “lấy hiếu làm trinh “vẫn được coi là cao đẹp .

Tìm đến những lời thơ trong “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người đọc cũng  như được đối thoại với tác giả để thấu cảm những quan niệm , triết lý sâu sắc của nhà thơ về lối sống nhàn :

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao “

Sự đối lập giữa hai cách sống, hai quan niệm, một bên là nhàn hạ, thảnh thơi về tâm hồn, một bên là lối sống bị cuốn hút bởi danh lợi. Cách nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cách nói ngược pha chút thâm trầm, hóm hỉnh, sâu sắc về lối sống nhàn”, “dại’’ mà “ khôn’’, “khôn mà dại’’. Với ông, nhàn là được sống an nhiên, tự tại với tâm hồn, không bon chen, tranh giành danh lợi để di dưỡng tinh thần, bảo vệ nhân cách.

Tạo nên những cuộc đối thoại và giao tiếp  ngầm, tác phẩm văn học cũng giúp người đọc được tự mình đối thoại với bản thân để nhận thức và tự hoàn thiện mình.Tìm đến văn chương nghệ thuật, cũng là lúc người đọc được khám phá thế giới tâm hồn sâu kín của nhà văn , được thanh lọc tâm hồn qua những tâm tư,tình cảm  quan niệm và triết lý về nhân sinh được người nghệ sĩ nhắn gửi. Tác phẩm văn học khi cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại cũng  khiến ta như sống được nhiều cuộc đời hơn qua những cuộc đời của người khác,được khám phá cuộc đời như một tấm thảm ba tư kì diệu, muôn màu sắc với nhiều con người , nhiều cảnh ngộ khác nhau. Để từ đó lay thức ở ta những tình cảm tốt đẹp mang giá trị nhân văn cao cả, khiến ta biết thấu hiểu , cảm thông trước số phận và nỗi đau của những kiếp người bị đày đọa. Văn học tạo khả năng giúp con người tự mình đối thoại, chất vấn, tranh luận để hướng đến những giá trị chân thiện mỹ ở đời. Người đọc vì thế mà khi đến với văn chương nghệ thuật và tham gia vào những cuộc đối thoại, giao tiếp ngầm sẽ nhận thức để góp phần hoàn thiện mình .

Để tạo nên những tác phẩm có giá trị “không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc thoại “người nghệ sĩ không những cần có một tấm lòng nhiệt huyết , một trái tim yêu thương vô bờ , nhạy cảm với những vấn đề của cuộc sống mà còn phải là những cây bút tài năng ,độc đáo. Có sự kết hợp giữa tâm và tài để sáng tạo nên những tác phẩm vượt thời gian và có sức sống lâu bền tới mọi thế hệ. Ý kiến cũng đã đặt ra những yêu cầu đối với người sáng tác và tiếp nhận. Người nghệ sĩ khi sáng tác văn chương nghệ thuật cần phải sống thật sâu sắc với đời, phải trau dồi cho bả thân cá tính, trải nghiệm để có được những rung động chân thành, mãnh liệt trước mọi vấn đề của cuộc sống. Khi đến với tác phẩm nghệ thuật và  thưởng thức đứa con tinh thần của nhà văn , bạn đọc cũng cần bồi dưỡng cho bản thân những tình cảm tốt đẹp để thấu cảm hết những gì mà nghệ sĩ muốn gửi gắm .

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đa từng nói rằng: “văn thơ hay có tác dụng nuôi dưỡng những tình cảm lớn, tình cảm đúng  ngược lại ít nhiều cũng phải có những tình cảm lớn , tình cảm đúng để cảm nhận cái hay thật của văn thơ”. Tác phẩm văn học ra đời nhằm thực hiện sứ mệnh gửi gắm bức thông điệp thiêng liêng từ trái tim người nghệ sĩ, có khả năng lay thức ở người đọc những “tình cảm đúng , tình cảm lớn “và khơi dậy ở ta niềm đồng cảm sâu sắc. Nhưng hơn hết để có được sức mạnh “ vượt ra ngoài sự tác  động của định luật băng hoại “văn học còn phải tạo nên những cuộc đối thoại và giao tiếp ngầm, từ đó làm nên sức sống lâu bền đến mọi thế hệ người đọc.

(Bài viết của học sinh lớp 11 chuyên Văn)

2.3. Vận dụng kiến thức tác phẩm ngoài chương trình theo kiểu điểm xuyết, bổ sung, liên hệ, mở rộng (kiến thức tác phẩm ngoài chương trình chiếm khoảng 10-20%)

Đề 1. Trong Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định:

“Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường”.

 (Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2007, trang 51)

Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Bằng hiểu biết về một số tác phẩm thơ ca, hãy làm sáng tỏ.

“Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần.”

Một nhà văn, muốn sáng tác một tác phẩm hay, tồn tại mãi với thời gian, thì ngoài sự hiểu biết rộng rãi, tài năng bẩm sinh còn phải có cảm xúc thật sự tự đáy lòng mình, thì mới sáng tác được. Bên cạnh đó còn là tài năng sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật một cách đầy thẩm mỹ, nhân văn. Trong Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi đã  từng khẳng định: “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường”. Và đến với Thơ Mới, ta được bắt gặp những rung động lạ thường của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử như thế.

Sáng tạo nghệ thuật quả là một công trình đầy khó khăn, phức tạp, không phải ai muốn cũng làm được. Hiếm ai có thể “dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ”. “Chữ” ở đây không chỉ hiểu đơn giản là vỏ bọc âm thanh mà trong đó ngôn từ còn được sử dụng, được tổ chức một cách nghệ thuật. Ngôn từ trong văn chương không phải là ngôn từ thô ráp như trong cuộc sống hàng ngày mà nó đã được gọt rũa bằng bàn tay khéo léo của người nghệ sĩ để làm nên tác phẩm văn học có giá trị nhất. Bởi “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn từ”. Gọt rũa được những ngôn từ hay, độc đáo trong tác phẩm chính là một phàn thành công của người nghệ sĩ. Phải chăng ngôn từ trong văn học không chỉ đơn thuần là một kí hiệu bình thường mà nó còn đòi hỏi phải chạm đến trái tim người đọc, phải “thể hiện một trạng thái tâm lý bất thường”. Tức là qua ngôn từ, nhà thơ ghi lại trạng thái tâm hồn mình đang có những biến chuyển, rung động sâu sắc, mạnh mẽ, căng thẳng, những say mê khác thường, những cảm xúc chỉ thăng hoa một lần rồi vụt tắt. Nói cách khác, cội nguồn của sáng tác văn học chính là nguồn cảm hứng trong lòng mỗi nhà văn. Và ngôn từ là nơi ghi dấu lại những thăng trầm trong cảm xúc đó. Câu nói của Nguyễn Đình Thi thật sâu sắc, câu nói khẳng định được tầm quan trọng của ngôn từ trong quá trình sáng tác. Cảm xúc, suy nghĩ, ưu biểu hiện của nhà thơ có chạm đến người đọc hay không đều phải bắc qua cây cầu ngôn ngữ.

Những cây cầu ngôn ngữ ấy dù cho có gập ghềnh, chông gai đến như thế nào thì tác phẩm cũng “thể hiện một tâm thái rung chuyển khác thường”. Bởi văn học là nghệ thuật của ngôn từ, Văn học ra đời để phản ánh hiện thực cuộc sống vừa để bày tỏ những cảm xúc, suy nghĩ của nhà văn về hiện thực. Mỗi một hiện thực hiện ra trước mắt thì người nghệ sĩ đều phải nhào nặn, tái tạo lại, khoác cho nó một tấm áo mới trở thành ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện cái vô cùng, vô tận của cuộc đời, tâm hồn con người một csch hình tượng. Phải chăng vì người nghệ sĩ không bao giờ được phép dửng dưng, lạnh lùng trước những gì mình trông thấy để từ đó phản ánh vào trogn tác phẩm của mình một cách rõ nét, chân thực nhất. Nếu một tác phẩm mà chỉ có những từ ngữ vô hồn, vụng dại thì sao thành một tác phẩm trường tồn? Mà bên cạnh đó, thi sĩ phải gửi gắm tâm trạng, cảm xúc sâu xa của tâm hồn mình. Đó là tình cảm mãnh liệt, trào sôi không thể kìm nén, nhưng được chọn lọc dưới sự kiểm soát của lý trí để mài rũa ra những ngôn ngữ phát sáng nhất.

M.Bati đã từng nói: “Thiếu tình cảm thì có thể làm những câu thơ có vần chứ không thể làm thơ được”. Đúng vậy “Làm thơ ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời…thường” . Vì một lệ, sáng tạo văn học, thơ ca là một hoạt động trên trang giấy mà chỉ có những người biết mài rũa, chắt lọc mới có thể hoàn thành được quá trình ấy. Cảm nhận được hiện thực là điểm khởi đầu, nhưng dùng “chữ” để đưa nỗi trăn trở ấy đến được với người đọc thì người nghệ sĩ mới hoàn thành được cả mộ quá trình. Bởi lẽ, khi đến với một tác phẩm văn học, người đọc phải tiếp xúc với vỏ bọc ngôn từ thì mới có thể chạm được đến chiều sâu lắng bên trong. Chính vì thế, ngôn từ có một vai trò vô cùng quan trọng đối với một quá trình sáng tác. Văn chương luôn đòi hỏi ở người nghệ sĩ một khả năng sáng tạo từ ngữ, câu văn, hình ảnh độc đáo. Đây cũng là yêu cầu đối với người nghệ sĩ trong sáng tác. Và có thể nói, bước đi của ngôn ngữ thơ đã mang lại cho văn học và đặc biệt là Thơ mới khả năng thể hiện tiếng nói sâu kín trong tâm hồn con người, thích hợp kiểu con người cá nhân thành thực, con người tâm linh, con người vô thức, tiềm thức. Nhờ ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật mang phong cách riêng, Xuân Diêu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính đã gửi gắm bao nỗi niềm tâm sự của mình vào trong thi phẩm của mình lần lượt Xa Cách, Tràng Giang, Đây Thôn Vĩ Dạ, Mưa Xuân.

Ở Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, những rung động khác thường đầu tiên khởi nguồn từ  một niềm ao ước thầm kín bên trong lại cất lên như một lời mời mọc từ bên ngoài, nỗi hoài niệm vốn âm u lại mang gương mặt của khát khao rực rỡ, nó được thể hiện qua hình ảnh thơ mới lạ, ngôn ngữ thơ tinh tế, nghệ thuật so sánh cách điệu hóa. Điều đầu tiên chúng ta cần khai thác là câu hỏi tu từ mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Nó mang lại nhiều các hiểu nhưng đặt vào kết cấu bài thơ ta  hiểu rằng câu hỏi tu từ này là của chính tác giả. Nhà thơ đã tự phân thân để hỏi chính bản thân mình. Sự phân thân và những sắc thái cảm xúc đan xen trong cùng một câu hỏi đã cho thấy tình yêu tha thiết, sự gắn bó sâu sắc của tác giả với cảnh sắc và con người thôn Vĩ.

Ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử dùng trong những chữ đầu thật  tinh khiết và trong sáng. Lớp ngôn từ đầu tiên mà chúng ta cần khai thác đó là “nắng hàng cau, nắng mới lên”. “Nắng hàng cau” là một chi tiết hé mở điểm nhìn nghệ thuật mang màu sắc hội họa độc đáo gắn liền với làng quê Việt Nam, gợi lên trong lòng người đọc một nỗi niềm quê hương làng mạc gần gũi. Tác giả đã sử dụng từ ngữ rất giản dị “nắng mới lên” khiến ta liên tưởng đến nắng mới lên trong thơ Lưu Trọng Lư: “Mỗi lần nắng mới hắt bên song”. Đây là nắng mới báo hiệu hè về, nắng đầu mùa làn thức dậy những kỉ niệm của đứa bé mồ côi mẹ từ thuở thơ ấu. Còn nắng trong thơ Hàn Mặc Tử là ánh nắng ban mai thanh khiết trong lành của ngày mới, mở ra không gian trong trẻo, những cảm xúc êm đềm thi vị

Lớp ngôn từ thứ hai mà chúng ta cần khai thác “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Mà trước hết là từ “mướt”. Trong câu thơ này, nó không dừng lại ở việc miêu tả độ mướt- độ mỡ màng mà còn như bao hàm trong nó một sức sống căng tràn, một nội lực từ bên trong đành phô ra ngoài lá cây, cành cây một sự mượt mà, óng ả, đầy xuân sắc. Và để cụ thể hoá sắc xanh của khu vườn, thi sĩ đã dùng nghệ thuật so sánh: “xanh như ngọc”. Ngọc đã được sử dụng như một vật liệu mang tính trực quan mà cũng ước lệ trong truyền thống. Trong thơ, Hàn Mặc Tử hay so sánh với ngọc để tuyệt đối hóa tột cùng vẻ đẹp quý phái, sang trọng của đối tượng như vậy. Hình ảnh so sánh này đã làm toát nên  vẻ đẹo thanh bình của làng quê Việt Nam. Nếu như cả bài thơ chỉ có một  đại từ “ai” thì không có gì đáng nói vì ý nghĩa phiếm chỉ của nó đã được khai thác nhiều trong ca dao, thơ ca. Nhưng ở bài thơ này, từ “ai” được lặp lại bốn lần và đều được đặt trong hình thức câu hỏi tu từ: “ vườn ai mướt quá xanh như ngọc”; “ai biết tình ai có đậm đà”; “thuyền ai đậu bến sông trăng đó”. Đại từ “ai” trong những câu thơ này đề thể hiện nỗi xót xa bởi thực tại ngắn ngủi, mong manh. Nhà thơ bị đẩy vào cảnh ngộ éo le nên cảm thấy cái đẹp của cuộc sống đều là tuộc về ai đó ngoài tầm tay mình. Tất cả những  từ ”nắng”, những ”vườn”, những ”con thuyền”, “vầng trăng”, … tất cả đã tạo nên một tập hợp hình ảnh rất sống về cuộc đời trong tâm trí Hàn Mặc Tử, khi ông, trong một cảnh ngộ riêng có tính bi kịch, bị gạt ra ngoài guồng quay của nó và chỉ có thể đứng từ xa, hướng đến cuộc đời, để ngưỡng vọng và khao khát. Làm day dứt thêm nỗi nhớ và khát khao, tác giả còn  sử dụng bút pháp cách điệu hóa và chấm phá:“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Có người cho rằng đây là gương mặt của con người thôn Vĩ, cũng có người cho rằng đó là gương mặt của người trở về thôn Vĩ trong mặc cảm chia lìa. Lại có người căn cứ vào câu: “ ặt em vuông tự chữ điền” và gắn với mối tình Hàn Mặc Tử – Hoàng Cúc mà cho rằng đó là gương mặt của Hoàng Cúc. Dù hiểu theo cách nào thì sự hiện diện của gương mặt chữ điền qua bút pháp cách điệu hóa cũng là hình ảnh thể hiện vẻ đẹp mộc mạc ẩn chứa cốt cách chất phác,tạo nên nét đẹp duyên dáng, thâm trầm rất riêng của xứ Huế. Bút pháp chấm phá đã vẽ nên vẻ đẹp hài hòa của con người và thiên nhiên. Bức tranh thiên nhiên vừa thơ mộng, vừa tràn đầy sức sống đã làm nền, tô điểm cho vẻ đẹp của con người. Câu thơ thứ tư đã khép lại hoàn chỉnh bức tranh thôn Vĩ.

Bằng những từ ngữ biểu cảm, hình ảnh đẹp, nghệ thuật nhân hóa một cái tôi  lại một lần nữa biến chuyển khác thường: mặc cảm chia lìa, hoài vọng khát vọng được chạm trổ lên:

Gió theo lối gió, mây đường mây

 Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Hình ảnh gió mây trôi dạt luôn gợi một nỗi buồn và thường gió thổi mây bay tức là gió và mây vốn dĩ vận động cùng chiều nhưng ở câu thơ này điệp từ “gió”, “mây” kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 đã tạo thành hai vế tiểu đối khiến người đọc thấy gió đóng khung trong gió, mây cuộc trong mây. Gió có thổi thì mây mới bay, nay lại được đặt ở hai thế hoàn toàn khác biệt, nó gợi lên sự cô đơn đến tuyệt đối. Sự chia lìa đã thấm sâu vào bản chất của vũ trụ, diễn tả thấm thía nỗi buồn trong lòng người. Hay hơn cả ở hai câu đầu vẫn là từ “lay”: động từ này diễn tả sự vận động lặp đi lặp lại như vô thức gợi lên một nỗi buồn lặng lẽ thấm thía. Một chữ “lay” như thế ta cũng đã từng gặp trong ca dao:

“Ai về Giồng Dứa qua truông

                          Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em.”

Trong ca dao, từ “lay” tô đậm sự trống vắng của cảnh, trống trải của long người. Còn câu thơ của Hàm Mặc Tử, chữ “lay” giữa vai trò rất quan trọng. Nó nối liền giữa hai câu thơ trên – thế giới đau thương do cảm nhận qua mặc cảm chia lìa với hai câu thơ dưới là thế giới của ước mơ, khát vọng. Nhãn tự của Đây Thôn Vĩ Dạ còn nằm ở chữ “ kịp”. Theo tiến sĩ Chu Văn Sơn: “chữ “kịp” lâu nay bị bỏ quên, bởi nó lặng lẽ khiêm nhường chứ không bóng bẩy ồn ào. Nhưng nó vẫn đẹp trong quên lãng. Chữ “kịp” mới mang bi kịch của tâm hồn ấy, thân phận ấy…”. “Tối nay” là khoảng khắc thời gian ngắn gủi, nghiệt ngã của Hàn Mặc Tử. Ta không thể khẳng định chắc chắn rằng “tối nay” là một tối nào cụ thể. Nhưng ta nhận ra một lời khẩn cẩu khẩn khoản khẩn thiết qua giọng thơ khắc khoải và qua chữ “kịp” kia. Nếu như trăng không về kịp thì kẻ sĩ hoàn toàn rơi vào trạng thái tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương. Như vậy từ “kịp” còn cho ta thấy một quan niệm sống, một tâm thế sống: sống là chạy đua với thời gian. Quan niệm này không phải hoàn toàn mới mẻ nhưng với Hàn Mặc Tử, nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không mới, bởi vì Xuân Diệu từng có quan niệm như vậy: “Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm

Qua cách sử dụng từ ngữ biểu cảm, câu hỏi tu từ, điệp ngữ đã dấy lên lên một niềm mong ngóng là thường vừa ló rạng đã vội hoá thành một mối hoài nghi:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”

Cụm từ “khách đường xa” gợi bao ý nghĩa. Có người cho rằng đó là hình ảnh con người thôn Vĩ mà tác giả luôn lien tưởng tới; cũng có ý kiến cho rằng đó là sự phân thân của Hàn Mặc Tử. Ông luôn phải sống trong nỗi mặc cảm mình chỉ là người khách qua đường. Điệp ngữ lặp lại hai lần trong một câu thơ khiến cho hình ảnh con người trong giấc mơ vốn đã nhạt nhòa thấp thoáng lại càng nhỏ bé dần, mờ dần rồi khuất hẳn. Cách sử dụng ngôn ngữ tài hoa của Hàn Mặc Tử gợi cho người đọc nhớ tới những câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính:

“Hôm qua xuống bến xuôi đò

Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau

Anh đi đấy, anh về đâu

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…”

Nếu ở khổ một là “mướt quá” thì ở khổ ba lại là “trắng quá”. “Trắng quá” là một sắc trắng kì lại bất ngờ. Ngôn ngữ thơ điên là ngôn ngữ cực tả. Đây là cách cực tả về mức độ của màu trắng một cách đấy tính ảo giác khiến cho sắc trắng của áo em đến độ lạ lùng.Với Hàm Mặc Tử, đó là cái đẹp mà thi sĩ có vươn tay cũng không với tới, có rượt đuổi cũng không bao giờ tới đích. Bài thơ có kết cấu độc đáo, vừa đứt đoạn vừa nhất quán; lối tạo hình giản dị mà tài hoa; ngôn ngữ thơ trong sáng; giọng điệu nổi bật là giọng đau thương khắc khoải đã thể hiện lên tâm trạng của nhân vật trữ tình hay chính là Hàm Mặc Tử: nỗi buồn, sự cô đơn đến tột cùng; tiếng nói của một ý thức sâu sắc về cá nhân mà lại thấy chuỗi ngày sống của mình trôi qua vô nghĩa: yêu tha thiết cuộc sống mà quỹ thời gian ngắn ngủi, khao khát được giao cảm với đời

Nếu Đây Thôn Vỹ Dạ khơi gợi trong ta những rung cảm mãnh liệt về một tâm thế níu đời, một hình thức nghệ thuật độc đáo đứt đoạn, siêu thực thì đến với “Tràng Giang”- Huy Cận ta lại bắt gặp một hồn thơ sầu ảo não với phong vị nghệ thuật cổ điển hiện đại giao hòa. Bằng hệ thống hình ảnh mang đậm phong vị Đường thi, ngôn ngữ đậm màu sắc cổ điển,… tác giả đã khắc họa thành công bức tranh sông nước tràng giang vừa cổ kính vừa bình dị, ẩn hiện trong đó là cái tôi thơ mới trĩu nặng nỗi niềm cô đơn tột cùng giữa dòng đời.

Bức tranh thiên nhiên hiện lên với những ngôn từ cực tả. Từ láy “điệp điệp” gợi ra một sự vận động liên tiếp của hàng ngàn con sóng, không gian sông nước rộng mở. Sóng lại được miêu tả qua chữ “gợn” là sự vận động trên bề mặt, đặc biệt qua nghệ thuật nhân hóa  cho thấy song không phải là hình ảnh thiên nhiên vô tri mà nó còn mang tâm trạng con người. Đó là một nỗi buồn trĩu nặng. Không gian đã được mở rộng hơn qua cụm từ “nước song song”, mở ra ở bề rộng theo sự vận động nhịp nhàng của những con sóng và vươn theo chiều dài, theo những dòng trôi. Cụm từ “sầu trăm ngả” gợi ý nghĩa sâu sắc. “Sầu” là một trạng thái tâm hồn của con người, ở đây lại được dùng với số từ “sầu trăm ngả” vì thế nỗi buồn hiện lên một cách hữu hình và vô cùng vô tận. Có thể nói ngôn ngữ thơ mới lạ lần đầu xuất hiện trong thơ mới lãng mạn Việt Nam nhưng cảm xúc thơ rất thật.

Nếu như các nhà thơ cổ điển khi viết về sông nước đều sử dụng hình ảnh ước lệ như cánh bèo hoặc bông hoa trôi thì Huy Cận đưa vào thơ của mình hình ảnh củi một cành khô. Tất cả những hình ảnh đó cũng rất thi vị độc đáo nhưng không thi vị gợi cảm nhiều. Hình ảnh “củi một cành khô” thể hiện sự bứt phá tính chất ước lệ thơ ca truyền thống mà vẫn thi vị. Nó là sự lựa chọn hoàn hảo và phù hợp nhất. Cành củi lênh đênh phiêu dạt giữa dòng còn làm nổi bật sự cô đơn, nhỏ bé vô định. Biện pháp đảo ngữ đưa hình ảnh củi lên đầu câu để nhấn mạnh sự phiêu dạt của nó, khiến ta liên tưởng đến những kiếp người nhỏ bé bơ vơ. Con người, vì nhiều lẽ, bị đẩy đưa, lưu lạc “mấy dòng”. Đây không chỉ là chuyện của những sự vật nhỏ bé, yếu ớt giữa sóng nước mênh mang không chỉ là chuyện của vật, “không chỉ là chuyện một mình Huy Cận” mà là “nỗi buồn chung của con người”. Ta nhận thấy cảnh sắc thiên nhiên đã có sự khác biệt, bức tranh thiên nhiên đã có thêm nhiều chi tiết: cồn nhỏ, làng xa và nỗi buồn cũng có sắc điệu riêng. Cái độc đáo còn ở chỗ, câu thơ có cấu trúc đặc biệt: hình ảnh cồn nhỏ đứng giữa hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” nên câu thơ không chỉ gợi buồn mà còn gợi cảm giác quá nhỏ nhoi, thưa thớt. Huy Cận đã tâm sự đại ý rằng khi viết câu thơ này chịu ảnh hưởng từ câu thơ nổi tiếng trong “Chinh phụ ngâm”:

“Non kì quạnh quẽ trăng treo

Bến phì gió thổi đìu hiu mấy gò.”

Chính vì vậy, câu thơ của Huy Cận cứ phảng phất âm hưởng của thơ ca cổ điển. Quả thật, từ “đìu hiu” diễn tả sự chuyển động nhẹ nhàng của gió, gió thổi nhẹ hiu hắt. Như vậy, không gian phải thật tĩnh lặng và rất vắng vẻ. Ta gặp ở đây bút pháp lấy động tả tĩnh, một thủ pháp thường gặp trong thơ Đường.

“Nắng xuống trời lên, sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Phê bình hai câu thơ này, TS. Chu Văn Sơn đã thể hiện được khả năng thẩm bình tuyệt hay, tuyệt khéo của mình: “Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên về cả bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ “nắng xuống trời lên”. Hai động từ ngược hướng “lên” và “xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Những từ: “xuống”, “lên”, “dài”, “rộng” là những từ miêu tả cảm giác cụ thể về không gian khiến cho không gian như được mở ra đến vô cùng, vô tận. Cách sắp xếp từ ngữ theo cặp đối xứng đã tạo ra độ dãn mở của không gian. Nghệ thuật tương phản “nắng xuống trời lên” tô đậm cảm giác không gian, dường như không gian tầng thấp và tầng cao được nối liền. Ở đây “sông dài trời rộng” tương phản với “bến cô liêu” càng nhấn mạnh sắc thái cô đơn, buồn vắng trước sự bao la của vũ trụ, vừa gợi suy ngẫm về sự nhỏ bé hữu hạn của con người trước không gian lớn lao.

Bốn câu thơ cuối bài là đã góp phần đưa “Tràng giang’ trở thành một trong những thi phẩm hay của phong trào thơ mới bởi nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ sáng tạo, sử dụng từ ngữ tinh tế vừa cổ điển vừa hiện đại. Những câu thơ này đã  vẽ ra trước mắt người đọc một bức tranh chiều tà hùng vĩ tráng lệ, thấm đẫm một nỗi buồn  tình yêu quê hương của tác giả:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa”

Hình ảnh mây chiều được thể hiện qua những từ ngữ có giá trị gợi tả cao. Từ láy “lớp lớp” để lại ấn tượng cụ thể cho người đọc về rất nhiều đám mây được xếp chồng lên nhau, trùng điệp ở phía chân trời xa. Ánh hoàng hôn chiếu vào làm thành những ngọn núi bạc. Đây là sự so sánh ngầm đã khắc họa một bức tranh cổ điển. Bức tranh thiên nhiên chiều tà ở đây khác hẳn với cảnh chiều trong thơ trung đại. Trong thơ ca trung đại cảnh chiều thường hiện lên ảm đạm còn trong thơ Huy Cận nó hiện lên sinh động, hùng vĩ. Cảnh còn thêm sinh động nhờ từ “đùn”. Chữ “đùn” như một nhãn tự làm cho cảnh hoàng hôn không phải là một bức tranh tĩnh tại mà sinh động có hồn qua sự vận động của cảnh vật. “Cánh chim” là thi liệu quen thuộc dường như không thể thiếu trong thơ ca khi viết về buổi chiều. Trong ca dao, nó là tín hiệu điểm báo bước đi của thời gian: “Chim bay về núi tối rồi”. Trong  “Truyện Kiều”, hình ảnh cánh chim vừa thông báo thời gian, vừa nói lên dự cảm không lành của Thúy Kiều: “Chim hôm thoi thóp về rừng”. Cánh chim trong thơ Huy Cận vừa là tín hiệu điểm nhịp bước của thời gian. Thời gian chuyển mình từ trưa ngả sang chiều “Nắng xuống trời lên sâu chót vót” đến đây bóng chiều đã ập xuống. Cánh chim còn là tín hiệu của nỗi buồn, sự cô đơn giữa không gian hoang vắng, trời nước bao la. Hình ảnh cánh chim trong buổi chiều tà giữ mênh mông trời đất là sự hóa thân của cái tôi trữ tình thời thơ mới, một cái tôi đơn độc nhỏ bé luông muốn khẳng định sự iện hữu của mình với cuộc đời.

Khép lại thi phẩm, nỗi buồn hóa thân trong dáng dấp của khao khát đoàn tụ, sum vầy, được yêu thương với hình ảnh: “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Huy Cận là người lập lờ gọi tên nỗi buồn “buồn điệp điệp”, rồi chính ông cũng là người giải mã nỗi buồn cho độc giả cùng thấu. Nỗi buồn ấy được Huy Cận lí giải là “lòng quê”. Với cách dùng như vậy, tác giả đã làm cho câu thơ này hoàn toàn vắng bóng yếu tố ngoại cảnh. Nếu như ở câu thơ trên, tâm trạng nhân vật trữ tình được gửi gắm qua bức tranh thiên nhiên thì ở đây, tâm trạng nhân vật trữ tình nổi lên ở bình diện thứ nhất của ngôn từ. Đó là dấu ấn thi pháp mới: các nhà thơ mới thường bộc lộ cái tôi của mình một cách trực tiếp, mãnh liệt. Như vậy thơ của Huy Cận là sự kết hợp hài hòa giữa cỏ điển và hiện đại. Với cách dùng từ “vời” kết hợp cùng hình ảnh “con nước” Huy Cận một lần nữa mở ra cảnh tràng giang bao la trống trải, từ đó gợi lên nỗi buồn, sự cô đơn.

Cách nói phủ định để khẳng định tâm trạng: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” khiến ta nhớ đến câu thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu khi ông dừng chân trước cảnh chiều tà

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sống cho buồn lòng ai)

Khói sóng bên sông là một cái cớ để Thôi Hiệu nhớ về quê hương xa cách. Còn Huy Cận dẫu không có khói song cũng nhớ nhà. Cả hai đều chung nỗi sầu xa xứ, nhớ quê hương da diết. Có thể nói Huy Cận nối tiếp mạch sầu vạn cổ tính nhân văn của thơ Đường. Tuy nhiên, các nhà thơ cổ thường mượn cảnh để nói tình nhưng Huy Cận đã bộc lộ trực tiếp tâm trạng. Nỗi buồn của Huy Cận đã trải ra cùng sông nước mênh mang truyền lên vũ trụ để rồi xoáy sâu vào lòng người đầy ám ảnh. Đây không chỉ là mảnh tình riêng của Huy Cận mà đó còn tiêu biểu cho tâm trạng của các nhà thơ mới. Họ đang tìm về chỗ dựa tình thần cho một tâm hồn bơ . Bài thơ có hai hình ảnh tràng giang sóng đôi, bởi vậy bài thơ khép lại nhưng đã lay động đến tâm hồn người đọc tình yêu quê hương xứ sở. Hai câu thơ với cách sử dụng ngôn ngữ tài hoa tinh tế, cách nói phủ định để khẳng định đã bộc lộ trực tiếp tâm trạng nhân vật trữ tình: một nỗi buồn nhớ quê, sâu xa hơn là tình yêu đất nước. Bằng cách sử dụng từ ngữ tinh tế, giàu giá trị biểu cảm, hình ảnh thơ sáng tạo, cấu tứ độc đáo, có sự kết hợp giữa màu sắc cổ điển và hiện đại , Huy Cận đã phác họa thành công bức tranh thiên nhiên vừa đẹp vừa mang màu sắc cổ kính vừa mang dấu ấn thời đại; đồng thời bộc lộ tâm trạng nhân vật trữ tình với một nỗi niềm bơ vơ, sự cô đơn giữa không gian mênh mông sông nước đã kết đọng thành nỗi nhớ nhà.

Nếu làm một điều tra xã hội học rằng trong các nhà thơ Mới, ai được thế hệ bạn đọc yêu quý nhất, chắc đó là Nguyễn Bính. Xuân Diệu chỉ hợp với người trẻ tuổi, Hàn Mặc Tử khi người có văn hóa thơ còn Nguyễn Bính xúc cảm trong thơ ông gửi vào có thể rung động tất thảy. Sự trân trọng của Nguyễn Bính dành cho những mối tình quê, sự chân thành của cô gái thôn quê được thể hiện mãnh liệt qua những vần thơ đầy phong vị ca dao – Mưa Xuân. Cảm xúc mê đắm của Nguyễn Bính trước hết được bộc lộ qua cảnh sắc thiên nhiên mùa xuân làng quê miền Bắc, qua lớp ngôn từ nghệ thuật giản dị, mộc mạc

Những câu thơ đầu tiên tả cảnh  xuân thanh bình, giảu sức sống như lòng người con gái, thông qua hệ thống từ ngữ hình ảnh giản dị, quen thuộc, lời văn chân chất thấm đẫm hồn quê

“ Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa  xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay.”

Đầu tiên, cái tình của của Nguyễn Bính dành cho cảnh quê được thể hiện qua việc ông lựa  chọn không gian  và thời gian nghệ thuật : mùa xuân (mưa xuân) và ngày hội (hội chèo làng Đặng). Cảnh sắc, đất trời tươi đẹp, không khí sinh hoạt lễ hội khoáng đạt đã tạo điều kiện là nguồn cảm hứng dạt dào cho hồn thơ chân quê Nguyễn Bính bùng nổi. Hồn thơ ông như bị hút vào không khí chung đó.

Nguyễn Bính sử dụng những hình ảnh quen thuộc của cảnh xuân xứ Bắc” mưa xuân”,  hoa xoan của làng quê không hương không sắc. Kết hợp  với những cụm từ giàu sức gợi tả như “ phơi phới bay, lớp lớp rụng vơi đầy” Nó đã vừa diễn tả đúng trạng thái của hiện tượng lại mang màu sắc thẩm mĩ riêng biệt. Bình thường là những giọt mưa rơi, nhưng với “Mưa xuân” Nguyễn Bính viết mưa bay là đúng và phơi phới bay” lại rất gợi tả. Nhưng hình ảnh gợi cảm nhất của những chùm hoa xoan là khi tàn rụng, những cánh hoa nhỏ bay lớp lớp phủ trên đường. Anh Thơ đã rất có lí và nghệ thuật khi viết “Bên chòm xoan, hoa tím rụng tơi bời!”. Cùng với hiện tượng đó, Nguyễn Bính rất sáng tạo khi viết “Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”. Tô Hoài đã nhắc đến hai câu thơ trên của Nguyễn Bính với lời khen trân trọng: “ “Tầm vóc, thật tầm vóc mỗi câu thơ Nguyễn Bính!”. Sử dụng thành công biện pháp tả cảnh ngụ tình, cảnh hóa vui dại khờ, nhí nhảnh khi cô gái trong bài vội đi  hẹn hò với chàng trai, lại buồn sầu ảo não “ ngại bay, nát dưới chân giày”. Đã làm bức tranh thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn sống động đậm đà tình quê.

Tiếp tục là giọng văn kể lể, sử dụng những hình ảnh ca dao, khẩu ngữ lời ăn tiếng nói hàng ngày, Nguyễn Bính đã hóa thân vào hình ảnh người con gái để giải hóa nỗi niềm thầm kín của cô về một tình yêu lỡ dở. Cái tôi của Nguyễn Bính trong Mưa xuân là cái tôi hóa thân. Tâm trạng của tác giả cũng chính là tâm tư, cảm xúc của cô gái thôn quê trong những đêm hội chèo, trong những ngày lễ hội làng quê. Nguyễn Bính đã thổ lộ cho người cô gái thôn quê bao nỗi niềm thổn thức, ước muốn bằng lối nói mộc mạc mà thiết tha, tình tứ của ca dao, dân ca, ảnh hưởng đậm đà phong vị ca dao.  Cô thôn nữ “lòng trẻ con như cây lụa trắng” trong “Mưa xuân” khấp khởi sang “ đám hát thôn Đoài” để gặp người yêu theo lời hẹn. Sử dụng hình ảnh so sánh giản dị, quen thuộc “ cây lụa trắng” đã làm nổi bật hình ảnh Dịu dàng, ngây thơ và trong trắng. Hình ảnh thơ gợi nhớ đến câu ca

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

Ở đây hình ảnh cây lụa trắng gợi lên một cái trinh trắng của cô gái ít giao lưu tiếp xúc. Có lẽ còn lâu lắm cô gái mới nghĩ đến chuyện gia đình. Nguyễn Bính đã đưa khung cảnh thiên nhiên của một đêm xuân để gợi mở cho câu chuyện tình lỡ dở , lựa chọn một không gian, cảnh sắc thanh bình để làm  dụng ý nghệ thuật luôn cùng đi cùng bước với người con gái trong mọi cung bậc của tình yêu. Để diễn tả trạng thái người con gái ngượng ngùng khi lần đầu yêu thương tác giả sử dụng hình ảnh gợi không khí cổ xưa, quen thuộc với người dân lao động Việt Nam: giăng tơ, thoi xinh  giàu sức gợi tả tâm tư người con gái.  Nguyễn Bính ảnh hưởng từ dân gian lối nói định ước, áng chừng. Đó là lối nói thiên về cảm tính rất đặc trưng của người Việt Nam. Trong thơ ông ta thấy những từ “hình như” được xuất hiện với một tần số rất cao:

“Hình như hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ tới anh”

Những từ “hình như” có chút gì mơ hồ, không xác định đã diễn tả một cách thật tinh tế những tình cảm e ấp, ngượng ngùng của những tình cảm trong sáng, nhẹ nhàng của những chàng trai, cô gái trong tình yêu. Nguyễn Bính thật tài tình trong việc thể hiện nội tâm cô gái  thể hiện qua khả năng sử dụng ngôn ngữ, thành ngữ ca dao điêu luyện của tác giả. Những từ ngữ mà người thôn quê hay sử dụng được Nguyễn Bính  đưa vào thơ 1 cách tự nhiên: “ thế nào….chả; chắc hẳn,..”. Những cụm từ với cách diễn đạt mộc mạc cô gái ngửa bàn tay để đoán định thời tiết rồi mơ màng tưởng tượng cuộc gặp gỡ. Thật đáng trọng cái tình yêu tha thiết ở cô gái này khi cô” mải tìm ảnh chả thiết xem” trong đám hát thâu đêm ở thôn Đoài nọ.

Thơ Nguyễn Bính còn đậm màu sắc dân gian khi ông vận dụng một cách sáng tạo những thành ngữ , ca dao: năm tao bảy tuyết anh hò hẹn. “Năm tao bảy tuyết” là biến thể của thành ngữ “năm lần bảy lượt” có nghĩa là chàng trai cô gái đã thề nguyền, hẹn ước một cách chắc chắn không thay đổi. Chính vì thế mà cô gái đã tin tưởng, hi vọng bao nhiêu để rồi lại lỡ làng, lại thất vọng. Nếu Xuân Diệu thuộc dòng thơ Pháp với công thức đo đếm thời gian theo tư duy lý tính để thấy sự chảy trôi rất vội vã thì Nguyễn Bính – chủ soái của dòng thơ Việt – đi theo một lối đi khác, ông cảm nhận thời gian bằng tư duy cảm tính, sự chảy trôi của thời gian phụ thuộc vào tâm trạng thi nhân. Trong thơ Nguyễn Bính những cụm từ chỉ thời gian ước lệ thân thuộc trong thơ dân gian xuất hiện với tần số cao: thuở ấy, thuở trước, năm xưa, năm ấy, ngày xưa, bữa ấy,…

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày.

Với cụm từ “bữa ấy”, Nguyễn Bính đã đặt nhân vật trữ tình vào cách cảm nhận thời gian bằng tư duy cảm tính vừa tạo sự mơ hồ, không rõ ràng trong thời gian đồng thời hư vô trong tâm trạng nhân vật. Bằng sự cảm nhận ngôn ngữ tinh tế của Nguyễn Bính, nếu “thôi đê” có ý nhấn mạnh quãng đường không xa xôi gì thì từ “dãi đê” lại càng gợi nên một quãng đường thật ngắn. Thế mà trong tâm trạng thất vọng và sự lẻ loi cô gái âm thầm đi về thì con đường ấy thành quá xa. Bên cạnh thành công sử dụng ngôn từ để diễn tả tâm tư nhớ nhung, buồn rầu người con gái là sự vận dụng tài tình lối nhân hóa, ẩn dụ – những biện pháp nghệ thuật quen thuộc trong ca dao: thoi ngà nằm nhớ, mùa xuân cũng nhỡ nhàng, dường cửu lạnh,… Người xưa vẫn trao gửi biết bao những tình cảm bằng cách gán cho sự vật môt linh hồn, tâm trạng như con người” Khăn thương nhớ ai…”. Khi đọc thơ Nguyễn Bính ta cũng thấy nhà thơ sử dụng rất nhiều lần biện pháp nghệ thuật này. Thiên nhiên trên trang thơ ông không chỉ là hình ảnh của làng quê bình dị, thơ mộng mà còn là bức tranh tâm trạng của chính nhà thơ:

Hôm nay lá thấy tôi buồn

Luồn theo cánh gió lá luồn theo song

(Lá mùa thu)

Nguyễn Bính là nhà thơ của “các xứ đồng, của cái diều bay, của dây thiên lí, của mưa thưa, mưa bụi”. Ông tìm đến thơ để giãy bày cái tôi chân quê, giàu tình quê, cảnh quê của chính mình. Và đọc thơ ông người ta ngỡ như “thơ ông là viện bảo tàng của tâm hồn người Việt Nam xưa”. Thi nhân cũng tìm thấy sự đồng điệu, nghe thấy phía sau hững lỡ làng của họ dường như chính là sự lỡ làng của chính mình

Và Xuân Diệu, người được mang sức sống chưa từng có ở chốn nước non này, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.  Bằng cách sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, ở Xa Cách Xuân Diệu đã thể hiện khát vọng say đắm nóng bỏng trong tình yêu Xuân Diệu  với  biệt tài sử dụng từ ngữ , hình ảnh so sánh các biện pháp và phương tiện tu từ đa dạng, phong phú và cách nói cách diễn đạt mới lạ, thơ điệu nói thay cho điệu ngâm, ảnh hưởng thơ tượng trưng, thuyết tương giao… chủ trương cảm nhân tình yêu bằng cảm xúc ân ái xác thịt. Qua Xa Cách  đã gửi gắm vào nó quan niệm “tận hiến” trong tình yêu được thể hiện trong thơ Xuân Diệu rất rõ ràng, không chung chung, trừu tượng. Đó là sự tận hiến cả về tinh thần và thể xác. Khát vọng hướng tới hòa hợp về tinh thần của những trái tim yêu được thể hiện qua rất nhiều bài thơ “để đời” của Xuân Diệu, đặc biệt là bài Xa cách

Xuân Diệu chuyển từ điệu ngâm của trung đại sang điệu nói, ngôn ngữ từ ấy mà trở nên phong phú và tinh tế. Nó đã  bộc lộ thành công nỗi giận hờn vu vơ của chàng trai vì khoảng cách anh ta và cô gái kia quá xa ở nhưng dòng thơ đầu tiên. Trong “ xa cách” xuất hiện những đại từ nhân: anh, em. Nhân vật trữ tình bộc bạch tâm tư của mình một cách trực tiếp không ẩn mình sau những Mai, những Trúc, những Tùng.  Ông hoàng thơ tình sử dụng số từ một cách mới mẻ, ảnh hưởng từ thơ tượng trưng Pháp” một chút, thêm chút nữa” đã diễn tả ngọt ngào nỗi mong mỏi được gần kề của chàng trai khi yêu. Đã gần lại càng muốn gần thêm nữa.

Yêu là khát khao mong muốn phát hiện vẻ đẹp trong sáng tiềm ẩn trong tâm hồn người mình yêu. Dường như những trái tim đang yêu không bao giờ thỏa mãn khát vọng kiếm tìm những “hạt ngọc” ẩn giấu trong tâm hồn người yêu và luôn muốn đi đến tận cùng sự khám phá, thấu hiểu những điều bí ẩn trong tâm hồn người yêu. Xuân Diệu cũng cho chúng ta thấy một khát vọng về yêu, quan niệm thẩm mĩ về con người  như vậy qua lớp ngôn từ giàu xúc cảm:

“Đôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!

Ôi trời xa, vừng trán của người yêu!

Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều

Mà ta riết giữa đôi tay thất vọng.

Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng.

Em là em, anh vẫn cứ là anh.

Có thể nào qua Vạn Lí Trường Thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.”

Cái nhìn của chàng trai giành cho cô gái của mình thật tinh tế qua những hình ảnh so sánh kết hợp với những từ cảm thán: đôi mắt…, ôi vực thẳm; ôi trởi xa… vừng trán người yêu.” Vẫn là lối ví von nhưng qua lối diễn đạt mới mẻ , Xuân Diệu như thổi hồn vào đôi mắt, vầng trán của người con gái một chiều sâu thi vị và độc đáo.  Sự hòa hợp với thân xác người yêu cũng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì tình yêu, duy trì sinh lực sống nên trong thơ tình Xuân Diệu người đọc thấy tràn ngập hình ảnh tôn vinh vẻ đẹp hình thể của con người: vầng trán, đôi mắt như trong Xa cách, tóc liễu buông xanh (Nụ cười xuân), miệng vàng, nhan sắc (Mời yêu), đường vai, nét tay (Dấu nằm). đối với thi sĩ vẻ đẹp hình thể của người yêu là “ngọc ngà tinh anh” do đất trời ban tặng

Sử dụng hình ảnh mới mẻ, tân kì “Vạn lí Trường Thành”. Nó là vật vô tri nhưng qua lăng kính tài hoa của Xuân Diệu nó trở thành vách ngắn khắc nghiệt của tình yêu. Kết tinh ở cuối bài là những đặc sắc nghệ thuật trong cách sử dụng từ ngữ đánh thức giác quan, phong phú và bút pháp tương giao. Do đó triết lý yêu trong thơ tình Xuân Diệu bên cạnh việc luận giải vấn đề yêu là hướng đến sự hòa hợp tâm hồn thì còn khẳng định một chân giá trị đầy tính nhân bản: yêu là khao khát được hòa hợp với thân xác người mình yêu: “Hãy sát đôi đầu ! Hãy kề đôi ngực ! Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay ! hãy cuốn riết đôi vai ! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt ! Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt.”

Trái tim cũng chính là nơi thể hiện sự tự cảm thấy mình, là nơi suy nghĩ và thể hiện lăng kính nhìn sự vật, hiện tượng, cuộc sống, con người của tác giả. Trong thơ Xuân Diệu, ngoài việc thể hiện trực tiếp hình tượng trái tim bằng chính từ ngữ ấy, tác giả còn thể hiện hình tượng bằng từ “đôi ngực” dựa trên mối quan hệ liên tưởng giữa chỉnh thể và bộ phận để nói về những cung bậc cảm xúc của tình yêu. Từ đó mang lại những nhục cảm rất thực trong thơ. Bằng cách động từ mạnh bạo, mãnh liệt, bằng nhịp điệu dồn dập  hối hả, Xuân Diệu đã giục giã sự hòa cảm tuyệt đối về thể xác lẫn tinh thần lên tới tuyệt đối: kề sát, kề, trộn, quấn, riết,…

Và chính sự hòa quyện cả hình thức lẫn tâm hồn, ảm xúc nên nhà văn mới có thể sáng tạo lên được những bài thơ có giá trị sâu sắc. Bởi là một người nghệ sĩ mà khi sáng tác văn chương không dựa vào tác phẩm của mình. Trạng thái tâm lý – thẩm mĩ phong phú và phức tạp để từ đó người cầm bút có thể thỏa sức nhào nặn, sáng tạo, chuyển đổi tất cả những rung động, nhận thức của con người về đời sống trở thành ngôn từ. Bởi sự thành công của một tác phảm thơ là chỉ cần đọc một dòng thôi mà nhà văn có thể hiểu được cả thế giới. Nhưng muốn làm được điều đó nhà thơ phải trải qua một lộ trình hết sức gian nan, vất vả, phải lao động một cách thầm lặng cùng với niềm đam mê vô bờ thì mới có thể sở dụng được mộ chữ để đời trong văn chương. Nhưng không phải ngẫu nhiên người nghệ sĩ có thể làm được như vậy mà đằng sau một tác phẩm thơ luôn đòi hỏi người nghệ sĩ ở cảm xúc chân thành, tha thiết, lựa chọn ngôn từ chính xác, chắt lọc nhất để qua đó thể hiện tư tưởng, cách nhìn củ người nghệ sĩ đối với cuộc đời. Ý kiến của Nguyễn Đình Thi cũng là một hồi chuông cảnh tỉnh với người đọc, người nghe để kí đọc một tác phẩm thơ, muốn lĩnh hội được tất cả ý hay, ý đẹp trong câu thơ thì độc giả cũng phải cùng buồn, cùng vui, cùng đồng cảm, sẻ chia với tấm lòng tác giả. Có như vậy, thì ngôn từ trong thơ mới không bị lãng phí, mới giữ đươc trọn vẹn.

Và các tác phẩm trên của bốn nhà thơ Mới  đã phản ánh cho ta thấy được tận mắt “chữ” để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường” của Nguyễn Đình Thi. Một bài thơ dù hay đến mấy cũng phải bang qua cây cầu ngôn từ để đến với người đọc. Cây cầu có đẹp, có vững chắc bao nhiêu thì sẽ gợi được thiện cảm tốt trong lòng người đọc. Bởi vậy, một tác phẩm có nguyên nội dung, ý nghĩa thôi là chưa đủ mà để làm nên một kiệt tác thì ta luôn phải có sự kết hợp hài hòa, gắn bó cả hai sự hòa quyện đó thì tác phẩm mới luôn muôn sắc, muôn vẻ.

Đề 2. Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bình luận ý thơ sau:

Chất trong vị ngọt mùi hương

Lặng thầm thay những con đường ong bay.

Trải qua mưa nắng vơi đầy

Men trời đất đủ làm say đất trời.

Bầy ong giữ hộ cho người

Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.

(Trích Hành trình của bầy ong – Nguyễn Đức Mậu)

Bài làm

Ai đó đã từng nói rằng, “Viết chính là chết” để nói lên sự khổ công trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Mỗi tác phẩm là một lần nhà văn sống hết mình, dốc hết bầu tâm tư, nguyện vọng của mình trong đó, là một lần đau khổ tột cùng, yêu thương tột cùng, căm hận đến tột đỉnh,…Nhưng từ ấy mà tác phẩm sinh thành, mang trong mình những âm vang đa thanh của cuộc đời, chưa đựng biết bao nhiêu cảm xúc ngân nga của tâm hồn người nghệ sĩ. Quá trình đó đã được Nguyễn Đức Mậu thể hiện thật sinh động tinh tế trong những câu thơ:

“Chất trong vị ngọt mùi hương

Lặng thầm thay những con đường ong bay.

Trải qua mưa nắng vơi đầy

Men trời đất đủ làm say đất trời.

Bầy ong giữ hộ cho người

Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.”

                                             (Trích Hành trình của bầy ong )

“Hành trình của bầy ong” hay phải chăng cũng chính là hành trình sáng tạo nghệ thuật đầy miệt mài  của người nghệ sĩ chân chính. Nếu như loài ong không ngừng chắt “vị ngọt mùi hương” từ cuộc đời để làm nên những giọt mật ngọt ngào, lưu giữ bao mùa hoa trước bước đi của thời gian thì người cầm bút lại chưa từng thôi khám phá, chắt lọc thực tế cuộc sống đưa vào trang sách, sau cùng bất tử hóa hiện thực trước dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian, làm nên tác phẩm muôn đời. Tác phẩm đó chính là những “giọt mật” ngọt ngào, là kết tinh của tài năng tâm sức, quá trình lao động nghệ thuật hăng say của người nghệ sĩ, là kết quả đẹp đẽ của cuộc sống đã được lắng lọc, chăm chút.Và từ đó, “bầy ong giữ hộ cho người/ Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày”. Những mùa hoa giữ lại chính là hiện thực cuộc sống được ngưng đọng, là lẽ sống, quan điểm, tư tưởng, thông điệp thẩm mĩ,… mà tác giả muốn truyền tải đến người đọc. . Quá trình sáng tạo giờ đây không chỉ tuân thủ quy luật phản ánh hiện thực đơn thuần mà còn phù hợp với chức năng của văn chương chân chính: nhận thức, giáo dục để hướng con người đến với cái đẹp đích thực. Bằng cách giữ lại những “mùa hoa” đẹp nhất, những hương vị đậm đà nhất của cuộc sống, con người có thể nhìn lại, thấy được một hiện thực đã qua một cách sống động, để rồi tự cảm, tự ngẫm ra bao thông điệp sâu sắc thú vị. Nhờ vậy mà hiện thực trở nên có giá trị lâu dài và bền vững khi được lưu giữ trên trang giấy – trang văn. Vậy, ý kiến đã bàn về mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực cuộc sống , vai trò của nhà văn đối với bạn đọc.

Có thể nói,chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ, văn học thôi gắn bó với cuộc đời đa dạng và phong phú. Những hương vị của cuộc sống đa thanh với những vui buồn, đau đớn, những ước mơ, khát vọng,…đã nuôi dưỡng cho tác phẩm văn chương lớn lên, như nhà thơ Tố Hữu từng nói “Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học.” Hiện thực là nguồn cảm hứng, là chất liệu để nhà văn xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật. Tách khỏi cuộc đời, tác phẩm sẽ trở nên lạc lõng và xa vời với người đọc. Tuy nhiên,  hiện thực trong tác phẩm phải là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Nghĩa là, hiện thực được đưa vào trang viết không phải là hiện thực đời thường trần trụi mà đã được chọn lọc kĩ càng, trải qua thời gian trải nghiệm và khám phá “mưa nắng vơi đầy” của nhà văn. Người nghệ sĩ có thể phản ánh những điều tốt đẹp, cao cả hay bé nhỏ tầm thường, những hiện thực bén nhọn của đời sống khách quan hay chủ quan của tâm hồn. Song, hiện thực đó phải là những gì tinh túy nhất, thể hiện sự trăn trở, nâng niu của người viết, đồng thời thấm nhuần tư tưởng về cuộc đời, đặc biệt về con người với đời sống phức tạp, phong phú. Chỉ khi ấy, quá trình khám phá, chọn lọc của nhà thơ, nhà văn mới thực sự có ý nghĩa.  Khi hiện thực bước vào tác phẩm, hiện thực ấy không còn là “vị ngọt mùi hương” đơn thuần nữa. Qua bàn tay của nhà văn, nó trở thành “men say” – cái đẹp có khả năng làm nên sức mạnh nội tại, giúp văn chương trải qua bao mưa nắng với đầy mà làm say đất trời, lôi cuốn độc giả, hướng con người đến cái Chân – Thiện – Mĩ. Làm nên điều kì diệu đó phải nhờ đến “ cuộc hành trình” âm thầm, lặng lẽ, không ngừng dấn thân, không ngừng khám phá và miêu tả cuộc sống của nhà văn. Người nghệ sĩ chân chính là người yêu say cuộc đời thiết tha, yêu thương con người hết mực, với trái tim không ngừng rung cảm trước mọi sự việc mà anh ta bắt gặp, cũng như không bao giờ cho phép bản thân thôi ngụp lặn giữa bể đời để tìm cho ra “chất vàng mười” đem gửi vào trang sách một cách lặng thầm chứ không khoa trương. Bởi hơn ai hết, anh ta thấu hiểu mối quan hệ song trùng giữa văn chương và cuộc đời. Bằng tấm lòng nhân đạo cao cả, bằng quá trình lao động hăng say và khó nhọc, “sống đã rồi hãy viết”, nhà văn đem đến cho cuộc đời những trang văn bất hủ  muôn đời. văn chương nghệ thuật thực sự thực hiện cái thiên chức cao cả của nó là làm cho con người tốt đẹp hơn. Hiện thực khi biến thành chất “men say”, cùng với tài năng sáng tạo một hình thức nghệ thuật độc đáo giúp tác phẩm thực sự chiếm trọn tâm hồn, trái tim độc giả. Quả thực, người nghệ sĩ đóng vai trò vô cùng quan trọng để tạo nên một trang văn thấm đẫm vị đời, hoàn thiện và nâng cao hơn đời sống tinh thần của con người.

Đến với mỗi tác phẩm văn chương, ta chợt nhận ra bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu nỗi niềm của nhà văn khi nhìn thấy những cảnh đời khó nhọc, khi ngắm nhìn vẻ đẹp của thiên nhiên sông núi, hay khi ngẫm ra được một quy luật của cuộc đời, của lòng người vẫn thường luôn luôn vần xoay. Bức tranh của một thời đại đầy ắp những  biến động,chân dung của những con người tài hoa bạc mệnh cũng đã hằn in rất sâu trong những vần thơ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Cùng với một nàng Tiểu Thanh trong “Độc Tiểu Thanh kí”, một Thúy Kiều trong “Truyện Kiều”, một người con gái đất La Thành trong “Điếu La Thành ca giả”.Nguyễn Du lại “để nước mắt rơi ướt áo” khi khóc thương cho số phận một người ca nữ thành Thăng Long trong tác phẩm thơ chữ Hán “Long Thành cầm giả ca”. Bài thơ ra đời từ những điều tai nghe mắt thấy trong hành trình đi sứ, khi tác giả trở lại thành Thăng Long, cơ nghiệp nhà Tây Sơn đã tiêu tán, chỉ còn lại một người ca nữ già, chợt thấy tiếc thương cho sự biến đổi chóng vánh của cuộc đời:

“ Người đẹp Long Thành
Họ tên không được biết
Riêng thạo đàn huyền cầm
Dân trong thành gọi nàng là cô Cầm
Tuổi cô cỡ hai mươi mốt
Áo hồng ánh lên khuôn mặt đẹp như hoa
Rượu đậm thêm nét mặt ngây thơ khả ái
Ngón tay lướt năm cung réo rắt…”

Câu thơ nói về một người con gái đẹp, có tài gảy đàn, những khúc nhạc được ví như nhạc tiên từ trên trời đưa xuống thế gian, được coi như là “báu vật Tràng An”. Lần gặp gỡ đầu tiên đã làm cho Nguyễn Du mến mộ, trân trọng. Vẫn luôn là một tấm lòng yêu mến người tài như vậy, nhưng ở đây bên cạnh sự mến mộ, nhà thơ còn bày tỏ một nỗi lòng chua xót cho số phận con người, số phận một triều đại trong thoáng chốc:

“Điệu nhạc xưa làm ta thầm nhỏ lệ
Lắng tai nghe lòng càng đau xót…
Thành quách đã chuyển, người cũng đổi thay
Nương dâu trở thành biển cả đã nhiều
Cơ nghiệp Tây Sơn cũng đà tiêu tán
Sót lại đây còn người múa ca.
Thấm thoắt trăm năm có là bao
Cảm thương chuyện cũ dùng áo thấm nước mắt
Ta từ Nam trở lại, đầu bạc trắng
Trách làm sao được sắc đẹp cũng suy tàn.
Hai mắt trừng lên tưởng nhớ chuyện xưa
Thương cho đối mặt mà chẳng nhìn nhận ra nhau.”

Nguyễn Du là con người sống qua ba thời đại biến động, nhà Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Thơ Nguyễn Du bao giờ cũng bộc lộ rõ nét trái tim yêu thương vĩ đại của ông với cuộc đời. Mỗi trang thơ là một bức tranh hiện thực – hiện thực lịch sử mang đậm tính thời đại. Bản thân ông đã trải qua mười năm gió bụi, chứng kiến nhiều cảnh đời,vốn sống phong phú và dồi dào kết tinh trong một hồn thơ nhân đạo cao cả. Đây là bài thơ duy nhất ông nhắc đến nhà Tây Sơn, hơn nữa lại với một tấm lòng có phần thương tiếc. Đoạn thơ bộc lộ một niềm đau, hơn hết là khóc cho kiếp tài hoa gian truân, giống như chính bản thân ông mà có lần ông đã bộc bạch:

“ Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?”

(Độc Tiểu Thanh kí)

Khóc người và khóc cho cả chính mình vì nhà thơ ngẫm ra rằng, bao giờ cái gì “càng tài năng, càng thanh sắc” cũng càng bị hủy diệt nhanh chóng. Bài thơ kể về hai lần gặp người gảy đàn này là cả một câu chuyện buồn. Trên cái trục thời gian 20 năm là hai bữa tiệc quan, là thăng và trầm, là hưng thịnh và tiêu vong, là vinh và nhục, là trẻ đẹp, tài hoa và đầu bạc, phai tàn… Quá khứ hiện về trong hiện tại mà tiếng đàn xưa và tiếng đàn nay đã làm rơi bao nước măt, tê tái đau xót “như xé tấc son”… rải qua mấy chục năm dài loạn lạc, nếm đủ mùi cay đắng nghiệt ngã, người gảy đàn ở Long thành đã là một chứng nhân lịch sử, và đã cùng tác giả trở thành số phận lịch sử.Bài thơ làm người đọc đau đớn vì quy luật với cái đẹp vẫn luôn luôn nghiệt ngã, đau đớn vì thời gian đời người trôi đi quá nhanh, đau cho một kiếp người bạc bẽo bị vùi dập, càng nhớ lại sự sụp đổ của một triều đại đầy nuối tiếc trong lịch sử. Từ hiện thực nhỏ bé của một con người, nhà thơ khái quát lên hiện thực rộng lớn của cả xẫ hội. Còn mãi trong trang văn hình ảnh của một con người hay một kiếp người tài hoa bạc mệnh trong xã hội cũ, còn lại một tiếng khóc thương người và thương thân của Nguyễn Du. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình, thi phẩm đã thể hiện được một tinh thần nhân đạo cao cả; đã làm lay động lòng người đọc về cái nghịch lý giữa tài sắc và bạc mệnh, giữa tài tử với đa cùng, giúp người đọc thấm thía hơn về cái “hận”, cái “lụy” của những tài tử, giai nhân xưa, nay. Thấm thía nỗi oan trái của một kiếp người trong xã hội cũ, người đọc học được cách trân trọng nâng niu cái tài trong cuộc đời, biết yêu thương đồng cảm với những con người nhỏ bé bất hạnh hơn mình. Tác phẩm chính là một giọt mật ngọt của cuộc đời được Nguyễn Du viết lên bằng tất cả đau đớn, tiếc thương, thể hiện đầy đủ những suy ngẫm của nhà thơ về quy luật cái đẹp, cái tài trong cuộc đời. Vì vậy, bài thơ không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có giá trị nhân đạo cao cả.

Hiện thực vẫn luôn là mảnh đất màu mỡ, vẫn luôn ẩn chứa nhiều vẻ đẹp, là đóa hoa thơm ngát muôn màu đầy mời gọi đối với người nghệ sĩ. Hiện thực cuộc sống cũng như đóa hoa kia chính là chất liệu để nhà văn chuyển hóa thành tác phẩm, thành những dòng “mật ngọt” để lại cho muôn đời. Phải có tấm lòng yêu say cuộc sống, phải sống sâu sắc với cuộc đời thì mới phát hiện ra được những nét đẹp thực giản dị, gần gũi mà chứa đựng cái hồn của cả một mùa xuân xanh tươi đang cựa mình trong đó. Xuân Diệu là một nhà thơ Mới lãng mạn, tuy nhiên ông lại không hướng tới thoát li thực tại như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Ở Xuân Diệu, ta thấy được tấm lòng gắn bó thiết tha với mảnh đất trần gian, với cuộc đời trần thế. Phải chăng những dạt dào nắng gió của vùng biển Quy Nhơn quê mẹ đã hun đúc nơi ông một tâm hồn lồng lộng, tha thiết, nồng nàn và rạo rực sức sống, để hôm nay chúng ta có một thi sĩ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ. Xuân Diệu yêu say cuộc đời, trong thơ ông phô diễn những bức tranh cuộc  sống xinh tươi, ngồn ngộn tựa chừng như thiên đường ngay nơi mặt đất, như bữa tiệc của tạo hóa, của trần gian. Trong “Vội vàng”, đó là hình ảnh của một mùa xuân đương ở độ viên mãn nhất:

“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa

Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

Bài thơ như dắt chúng ta qua những chặng đường để khám phá từng vẻ đẹp của mùa xuân: có “hoa” của “đồng nội xanh rì”, “hoa” vốn là biểu tượng của cái đẹp, của sức sống đang ở độ căng tràn viên mãn lại được đặt trong không gian đồng nội là không gian quen thuộc cùng với màu “cỏ xanh rì” – màu xanh đậm không có sự pha trộn càng làm cho không gian thêm nhân rộng dài ra mãi; có “lá của cảnh tơ phơ phất” mang đến một vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng; có âm thanh của “khúc tình si” – là khúc nhạc say đắm của tình yêu lứa đôi làm cho thiên nhiên càng thêm sống động trữ tình. Xuân Diệu còn thêm vào trong thơ của mình thứ ánh sáng ban mai tinh khiết “ánh sáng chớp hàng mi”, mỗi buổi sớm con người đón nhận ánh bình minh là thứ ánh sáng tỏa ra từ đôi mắt đẹp của một vị thần có tên gọi là thần Vui, nhà thơ đã mang vẻ đẹp của cuộc sống trần gian lên tầm vóc thần thoại sử thi và làm cho bức tranh thiên nhiên thêm vẻ lãng mạn tình tứ và cảnh kì ảo như ở cõi tiên. Đặc biệt hình ảnh “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” đã hoàn chỉnh bức tranh thiên nhiên mùa xuân, cách dùng tính từ độc đáo “ngon” càng nhấn mạnh sức hấp dẫn tuyệt đối của mùa xuân, lại được đặt trong tương quan so sánh với “cặp môi gần” thể hiện quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu. Trong văn học Trung Đại thiên nhiên được coi là chuẩn mực của cái đẹp, cho nên vẻ đẹp rực rỡ lộng lẫy của chị em Thúy Kiều đã được Nguyễn Du so sánh với những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên: “ Làn thu thủy, nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” còn với Xuân Diệu con người mới là chuẩn mực của cái đẹp, vẻ đẹp của thiên nhiên được so sánh với vẻ đẹp con người. Cho nên hình ảnh so sánh đã tạo nên một sự đỉnh điểm của bức tranh mùa xuân. Như vậy đoạn thơ trên đã mở ra hình ảnh một thiên đường trên mặt đất với vẻ đẹp sức sống đạt đến độ lí tưởng mà thiên đường ấy lại không hề xa xôi, nó hiện hữu cụ thể rất gần với con người. Qua đó người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của một con người yêu đời, luôn gắn bó với hiện thực, ham sống tham sống mãnh liệt. Càng yêu cuộc sống Xuân Diệu càng nuối tiếc khi nó bị mất đi, cho nên nhà thơ luôn muốn níu giữ thời gian, níu giữ cái đẹp, và luyến tiếc tuổi trẻ. Nhà thơ nhận ra sự hữu hạn của thời gian, sự ngắn ngủi của đời người. Khác với những nhà thơ xưa quan niệm thời gian là tuần hoàn, vạn vật nhất thể, Xuân Diệu quan niệm thời gian tuyến tính nghĩa là thời gian được hình dung như một dòng chảy xuôi chiều từ quá khứ,hiện tại đến tương lai, một đi sẽ không bao giờ quay trở lại, cho nên với nhà thơ ngay trong cái đẹp “còn non” của mùa xuân đã chất chứa một tương lai “sẽ già”, cảnh vật đang tàn lụi ngay trong sức sống căng tràn, viên mãn. Ở đây nhà thơ đã đồng nhất thời gian vật lí là mùa xuân với thời gian đời người là tuổi trẻ- tuổi của những khát khao, những ước mơ, những phá cách, tuổi của sự nhiệt huyết và lòng ham sống. Nhà thơ đã nhận ra những nghịch lí trong cuộc đời con người: “lòng tôi rộng” >< “lượng trời chật” , “xuân vẫn tuần hoàn” >< “ tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” , “còn trời đất” >< “chẳng còn tôi mãi”, đó là sự đối lập giữa cái hữu hạn và cái vô tận, nhà thơ nhận ra mỗi con người chỉ là một cá thể nhỏ bé của vũ trụ bao la vô cùng. Vì vậy ẩn chứa trong câu thơ là một nỗi buồn, sự tiếc nuối khôn nguôi. Từ đó nhà thơ đã đề ra một phương thức sống vội vàng, sống cao độ trong mỗi phút mỗi giây, tấm lòng khao khát mãnh liệt của thi sĩ xuất hiện qua những điệp khúc: ta muốn “ôm”, muốn “riết”, muốn “say”, muốn “thâu”, muốn “cắn” nhà thơ như muốn thu hút tất cả để có thể hòa làm một với mùa xuân, cuộc sống, đặc biệt cụm từ “ta muốn cắn” là đỉnh cao của khát vọng, của sự dâng trào cảm xúc không nén nổi : “ Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn/ Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Đoạn thơ với cấu trúc câu thơ theo mạch đối thoại giống như một tuyên ngôn sống, Xuân Diệu muốn gửi đến và chia sẻ với mọi người niềm khát khao sống mạnh mẽ, nhịp điệu sống, tốc độ sống hối hả để đón nhanh, bắt trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian. Tất cả đó đều là tấm lòng gắn bó với cuộc ðời cả!

Từ đó bài thơ đem đến cho người đọc những bài học giá trị mà nhà văn gửi gắm. Đó là một quan niệm nhân sinh mới mẻ, tiến bộ rằng hạnh phúc không phải ở chốn xa xôi, hay cõi bồng lai hư ảo mà nó ở ngay đây, ngay giữa cuộc đời này, ngay trong từng khoảnh khắc mà chúng ta đang sống, cho nên hãy đừng mơ mộng nữa, hãy biết yêu mến vẻ đẹp cuộc sống này khi còn có thể. Nói về quan niệm thời gian tuyến tính nhà thơ muốn chúng ta hãy trân trọng thời gian, trân trọng tuổi trẻ, nâng niu từng phút giây trong cuộc đời mình, bởi vì giống như tuyết mùa đông trên bãi cỏ mùa hè, thời gian đã qua là thời gian đã mất và có ý thức làm sao cho mỗi khoảnh khắc cuộc đời đều trở nên có ý nghĩa, giống như có người đã từng nói “Hãy có thời gian cho cả công việc và hưởng thụ; khiến mỗi ngày vừa hữu ích vừa thoải mái, và chứng tỏ rằng bạn hiểu giá trị của thời gian bằng cách sử dụng nó thật tốt. Và rồi tuổi trẻ sẽ tươi vui, và tuổi già không có nhiều hối tiếc, và cuộc đời sẽ là một thành công tươi đẹp”. Nhà thơ còn đem đến một lời khuyên về phương thức sống vội vàng, sống cao độ trong mỗi phút mỗi giây, sống nhanh sống nhiều. Tuy nhiên ta cũng nên hiểu sống vội vàng không phải là lối sống tư sản ích kỷ mà là sống hết mình, sống có trách nhiệm với cuộc đời để cuộc sống của mình có ý nghĩa, để ghi được dấu ấn cá nhân của mình trong cuộc đời. Quan niệm nhân sinh mới mẻ trong bài thơ đã nhắn nhủ với người đọc phải biết giữ gìn, nâng niu, trân trọng giá trị của cuộc sống và phải biết sống sao cho có ích. Vậy nhờ sống sâu sắc với đời cùng việc phản ánh hiện thực cuộc sống ấy vào trong tác phẩm – một hiện thực tươi đẹp nhưng cũng chóng phai tàn, Xuân Diệu đã lưu giữ được vẻ đẹp cuộc sống mãi mãi trong trang văn như ước muốn của ông. Đồng thời, ông gửi vào đó những quan niệm thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh, những bài học đầy giá trị giúp con người sống tốt hơn, sống có ích hơn trong cuộc đời. Vậy là những “mùa hoa” ông ấp ủ lưu giữ đã trở thành “mật ngọt” tỏa hương tới muôn đời.

Quá trình lao động nghệ thuật gian khổ cần lắm những người nghệ sĩ tâm huyết, sống sâu sắc với đời bằng một trái tim nhân đạo lớn. Bởi cuộc đời không chỉ được vẽ lên từ những mảng màu tươi sáng mà vẫn còn đâu đó những gam màu tối, những góc khuất trong lòng người, trong xã hội. Phản ánh hiện thực với những cái xấu, cái ác, lưu giữ lại những mặt trái ấy có thể khiến tác phẩm không trở thành một giọt mật “ngọt”, nhưng sẽ là một giọt mật quý và đầy giá trị. Bởi văn chương không thể chỉ ngợi ca, như thế sẽ làm cho con người trở nên ảo tưởng về thế giới thực. Phản ánh cuộc đời như nó vốn có, bao gồm cả những đau khổ, bất công, tiêu cực cũng là một cách giúp cho con người có cái nhìn toàn diện, dám đối mặt với cái ác, cái xấu để lên án nó, loại trừ nó, làm cho cuộc đời thêm phần tốt đẹp. Và Nam Cao chính là người phản ánh lên trang văn mảng hiện thực nghiệt ngã đó. Là nhà văn luôn quan niệm “ Sống đã rồi hãy viết” luôn lặn ngụp mình trong cuộc đời của nhân dân, kể cả những hạng người lao khổ, bần cùng nhất của xã hội, Nam Cao đã lấy chính những chiêm nghiệm từ cuộc đời của một người trí thức, một người cầm bút của mình để phản ánh một cách chân thực bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ. Trong “Đời thừa”, nhân vật Hộ bị đặt giữa những giằng xé của lý tưởng – hiện thực nghiệt ngã, của tình thương. Là kẻ có tâm, có tài, Hộ say mê văn chương đến độ coi văn chương là lí tưởng, là lẽ sống. Anh tự hào vì có được một tâm hồn nhạy cảm, phong phú và cho rằng không có lạc thú vật chất nào so sánh được. Hộ quyết tâm biến hoài bão lớn lao mà anh hằng ôm ấp thành hiện thực.Nhưng bi kịch thực sự đến với Hộ từ ngày anh mang trên vai mình gánh nặng gia đình. Nói cách khác, bi kịch đến với Hộ từ ngày anh gắn đời mình với Từ.  Những lo lắng liên miên về vật chất, những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí của đời sống cơm áo hằng ngày mà anh phải lo cho gia đình đã choán hết tâm trí, thời gian. Hộ đã bị đồng tiền làm cho khốn đốn. Để nuôi sống cả một gia đình không thể không có tiền. Hộ thấy tất cả sự nhục nhã của một người đàn ông không nuôi nổi vợ con. Thế là anh đành phải lao vào kiếm tiền. Vậy nhưng Hộ lại không có tài cán gì ngoài việc cầm bút viêt văn. Anh không như văn sĩ Hoàng trong “Đôi mắt” của Nam Cao còn có tài chợ đỏ chợ đen vì Hoàng là một tên trí thức nửa mùa, vậy nên muốn kiếm tiền chỉ còn cách viết. Như một quy luật tất yếu, muốn kiếm được nhiều tiền thì phải viết nhiều. Muốn viết nhiều sẽ phải viết nhanh. Mà để viết cho nhanh thì phải viết ẩu. Như vậy Hộ trở thành người cẩu thả văn chương từ bao giờ không hay biết. Giờ đây, Hộ chỉ viết được mấy bài báo vô cùng nhạt nhẽo để độc giả “đọc rồi quên ngay sau khi đọc”. Mỗi một lần đọc văn của mình, Hộ lại thấy nhục nhã, tự sỉ vả mình bằng những lời thật thậm tệ: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Như vậy, có hoài bão đẹp mà không thực hiện được, đây được xem là bi kịch đầu tiên của văn sĩ Hộ. Tấn bi kịch của Hộ chính là xuất phát từ tình yêu nghề và những khát khao cháy bỏng. Cái hiện thực đau lòng của người nghê sĩ được Nam Cao miêu tả đầy giằng xé, xót xa. Chưa hết, hiện thực cuộc sống trong “Đời thừa” còn được phản ánh qua một bi kịch khác nữa của cuộc đời Hộ. Đó là bi kịch của con người coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, sẵn sàng hi sinh tất cả cho tình thương nhưng tại phải sống tàn nhẫn, thô bạo với vợ con, chà đạp lên nguyên tắc sống do mình đặt ra. Vậy đâu là nguồn gốc nỗi đau giằng xé con người Hộ? Cả hai bi kịch của anh đều phản ánh một mâu thuẫn của xã hội: người có tài, có tâm muốn sống đẹp, sống tốt thì lại phải khốn khổ. Bản chất của Hộ là người tốt. Anh quan niệm kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình. Hộ đã cứu giúp Từ, một cô gái lỡ làng và cưới Từ làm vợ. Hộ đã cúi xuống nỗi đau khổ của Từ; thực hiện một hành vi như người ta làm việc nghĩa. Những đắng cay của cuộc đời mà Hộ phải nếm trải nhiều khi khiến lòng tốt cảu anh bị che mờ bởi những phẫn nộ với cuộc đời. Bế tắc, anh tìm đến rượu để giải sầu, và đây chính là một ngã rẽ đau đớn trong đời Hộ để mỗi lần tỉnh rượu, Hộ lại ân hận, xót xa. Anh xin lỗi vợ trong tiếng khóc nghẹn ngào: “Anh chỉ là một thằng khốn nạn!”.  Muốn thoát khỏi tình trạng đời thừa, Hộ chỉ còn một cách là rũ bỏ trách nhiệm đối với gia đình, thoát li vợ con để rảnh rang theo đuổi giấc mộng văn chương. Nhưng vốn nhân hậu, anh không thể chấp nhận sự tàn nhẫn. Với Hộ, tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người. Không có tình thương, con người chỉ là một thứ quái vật: “Hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường. Nhưng hắn còn được là người”. Vì thế, anh  đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương. Phải từ bỏ hoài bão lớn, anh âm thầm đau khổ, u uất, day dứt, nhất là khi gặp lại các bạn văn chương. Hộ lâm vào bế tắc, sống trong hiện thực nghiệt ngã và đau khổ đến cùng cực.

Như vậy rõ ràng, khi viết về cuộc đời của người trí thức, những nhân vật như Hộ, như Thứ, như Điền có thể coi đều là sự hóa thân của nhà văn. Nhận định về vấn đề này, Nguyễn Minh Châu đã từng nói: “Nam Cao là người tự nguyện nộp mạng mình cho Văn Chương”. Chính vì dâng hiến hết bản thân mình cho đời cầm bút, Nam Cao đã thực sự khơi được lòng cảm thương sâu sắc nơi người đọc. Đọc “Đời thừa” ta đã hiểu được những khó khăn trăn trở để có thể sáng tác nên được một tác phẩm đi vào lòng người . Người nghệ sĩ phải lắng mình nghe tiếng thở của đời, phải trăn trở bao đêm mà suy nghĩ về ý nghĩa đích thực cái nghề cầm bút ấy. Muốn tìm ra được chân lý của văn chương đâu phải ngày một ngày hai mà ra được, đó phải là sự suy tư, đúc rút cả một đời, phải là đam mê cháy bỏng và khao khát đầy mãnh liệt. Và đọc “Đời thừa” ta cũng hiểu thêm về cuộc sống con người trong xã hội cũ, khổ sở vì gánh nặng cơm áo. Tác phẩm đã cho ta cái nhìn chân thực về xã hội và giúp ta yêu thương hơn những con người cùng khổ, đặc biệt là dành sự trân trọng với  người nghệ sĩ và quá trình lao động nghệ thuật gian khổ của họ. “Đời thừa” chính là bức tranh hiện thực, cũng chính là những bài học về sáng tạo nghệ thuật  bài học cuộc đời mà Nam Cao gửi đến bạn đọc hôm nay, và mãi mãi còn vẹn nguyên giá trị.

Sáng tạo nghệ thuật cần đến sự dày công, tâm huyết, luôn luôn tìm tòi, luôn luôn khám phá những góc nhìn mới về cuộc sống để hiện thực trong tác phẩm văn học ngày càng toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Nguyễn Minh Châu thực sự đã thực hiện một “cuộc hành trình” đổi mới cách nhìn hiện thực trong văn học. Ông đã tạo ra được những “giọt mật” rất lạ, đã kiếm tìm hiện thực ở một bề sâu hơn, nơi con người không còn được “thần thánh hóa” như trong thơ ca cách mạng, nơi chiến tranh hiện lên với những nỗi đau thương và mất mát. Nhưng từ việc phản ánh những đau thương mà nhà văn đem đến cho người đọc một cái nhìn hiện thực lịch sử chính xác nhất, gửi gắm được những bài học nhân văn giá trị. Hơn hết, tác phẩm thể hiện những tìm tòi, trăn trở của Nguyễn Minh Châu về hiện thực, một hiện thực thời hậu chiến. Đọc “Cỏ lau” chúng ta nhận ra rằng chiến tranh đã đi qua, đất nước đã bình yên nhưng cuộc sống của những con người trở về sau những đổ nát không thể bình yên – họ phải đối mặt với chất chồng khó khăn. Cái nhìn về hiện thực khốc liệt của Nguyễn Minh Châu trong “Cỏ lau” mang âm hưởng của nỗi đau, nỗi xót xa không dứt. Chiến tranh đã để lại những vết thương rất sâu cho con người. Đó là Lực nhân vật có cuộc đời thật nghiệt ngã, trớ trêu và đầy bi kịch. Đi qua hai cuộc chiến tranh, anh đã để lại ở chiến trường 24 năm tuổi trẻ và đau đớn nhận ra: “Chiến tranh,…nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn lại như cũ”. “Nhát dao” khổng lồ ấy chỉ phạt ngang cuộc đời của Lực mà khủng khiếp hơn, nó còn để lại trong lòng quê hương của anh những vết thương không bao giờ kín miệng. Ở mảnh đất đó, người cha mất con, vợ mất chồng, con gái mất người yêu. Cũng ở mảnh đất đó, chiến tranh đã tàn phá khốc liệt đến nỗi không còn nổi một viên gạch lành. Những người con gái chờ chồng, chờ người yêu cũng sống trong sự bi kịch, đau khổ. Đó là Thai trước sự trở về của Lực khi số phận hai người tưởng đã an bài, khi Thai đang sống với một người chồng khác chỉ càng làm đau thêm cái vết thương vẫn âm ỉ đau trong suốt những năm qua. Còn Phi Phi, hình ảnh một cô gái tìm hài cốt người yêu trong một buổi chiều tím bâng quơ, giữa tiếng hát buồn man mác gợi cho chúng ta hiểu rằng “chiến tranh không phải trò đùa”. Cũng trong tác phẩm này, Nguyễn Minh Châu còn bộc lộ một nỗi lo khác không kém phần day dứt đó là lo âu về sự biến chất, sự tha hóa của con người bởi chiến tranh. Một nhân vật trong tác phẩm này đã cay đắng nhận ra rằng: “chiến tranh làm cho người ta hư đi hơn là làm cho người ta tốt hơn”. Lực đã phải công nhận sự thật chua chát đó ngay trong chính bản thân mình: “vì một cơn giận với người khác, lại một chút tư thù đầy nhỏ nhen với người lính mà tôi đã đưa người lính đi vào chỗ chết”. Để gợi nên ý niệm về số phận khổ đau, trớ trêu của những con người sau cuộc chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã sử dụng các biểu tượng” cở lau, hòn vọng phu, ngôi mộ”… rất thành công. Ông cũng rất tinh tế khi đưa vào tác phẩm của mình những thanh âm buồn da diết của bài hát “Mùa xuân”. Những tâm tư của nhân vật là thật hơn khi người kể chuyện chính là người trong cuộc. Bằng những cách ấy, Nguyễn Minh Châu đã bộc lộ nỗi lo khắc khoải khôn nguôi của mình về số phận con người sau cuộc trường chinh vĩ đại. tác phẩm khắc sau trong tâm trí người đọc một hiện thực nghiệt ngã, một góc khuất phía sau ánh hào quang của chiến thắng, đánh thức lại trong chúng ta suy ngẫm về số phận con người sau cuộc chiến tranh, nhắc nhở chúng ta cái giá của hòa bình và trách nhiệm sống một cuộc đời ý nghĩa. Tác phẩm không có một hiện thực long lanh nhưng vẫn làm người ta “say” vì nó chất chứa nhiều suy ngẫm, vì nó thể hiện sâu sắc tấm lòng của Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở về cuộc đời, về con người. Trên hành trình lao động nghệ thuật miệt mài của Nguyễn Minh Châu, “Cỏ lau” là một điểm sáng kết tinh giá trị hiện thực, nhân đạo cao cả, mãi nhắc nhở chúng ta về một “mùa hoa” đã qua, nhắc nhở con người biết sống tốt hơn, sống một cuộc đời xứng đáng với sự hi sinh của lớp người đi trước. Đó là một trong những “giọt mật” trong đời văn mà Nguyễn Minh Châu đã đã chắt chiu và gìn giữ cho con người mai sau.

Như vậy, những câu thơ của Nguyễn Đức Mậu đã đề cao vai trò của hiện thực cuộc sống trong tác phẩm văn học, cũng như vai trò của nhà văn đối với bạn đọc. Từ đó, ý thơ đặt ra bài học cho cả người cầm bút và người tiếp nhận. Đối với người nghệ sĩ: nhà văn phải luôn gắn bó với hiện thực, tìm tòi ở hiện thực những vấn đề có ý nghĩa để phản ánh trong tác phẩm, sống sâu sắc, lặn ngụp giữa “ bể đời” để chắt chiu những gì tinh túy nhất; hơn nữa sau khi “hòa mình vào cuộc sống của nhân dân” phải chú ý đến phương thức chuyển tải hiện thực đến người đọc, phải chọn được phương thức phù hợp nhất với mình và với nội dung truyền tải để đạt được hiểu quả cao nhất, gây được ấn tượng mạnh mẽ nhất. Với độc giả: cần cảm nhận tác phẩm bằng cả trái tim thì mới có thể thấu hiểu hết hiện thực cuộc sống, thông điệp thẩm mĩ mà tác giả gửi gắm, tùy từng hoàn cảnh, từng thời điểm lịch sử, từng cảnh ngộ con người mà bạn đọc phải đặt mình vào vị trí của nhân vật để cảm nhận ước mơ, lí tưởng, con đường đấu tranh cho chân lí, quan điểm về cuộc đời và về lẽ thiện – ác của họ.

Thạch Lam từng có một câu nói rất hay: “Đối với tôi văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên ; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. Văn học bắt nguồn tự mảnh đất hiện thực, nở hoa lên từ bất cứ mảnh đời nào và luôn đem đến cho con người những quan niệm, lẽ sống, những bài học nhân sinh giá trị. Với những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc ấy, văn học trở thành “chất men say” làm lay động lòng người, lan tỏa cả đất trời, bất tử, trường tồn trong dòng chảy nghiệt ngã của thời gian.

 

PHẦN KẾT LUẬN

 

  1. Một số kết luận chung rút ra từ chuyên đề

Ý nghĩa của chuyên đề: Đọc hiểu văn bản là một nội dung đã thu hút tâm sức của nhiều nhà nghiên cứu, người dạy học Văn. Việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông, đọc thuộc, không vấp váp đến đọc kĩ, đọc sâu và cuối cùng là đọc được thông điệp mà tác giả gửi gắm trong văn bản. Đọc cũng gắn liền với hiểu hiểu các kí hiệu ngôn ngữ, hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh, hiểu tính đúng sai để tán thành hay phản đối, biết đánh giá về chiều sâu, chiều rộng của những ý nghĩa đó. Như vậy, phương pháp dạy đọc hiểu chính là phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn, phát hiện ý nghĩa trong các ngữ cảnh trên tinh thần đối thoại giữa thầy và trò. Giáo viên là người kích thích hứng thú tìm hiểu của học sinh, tập trung vào những chỗ khó hiểu, không hiểu, giúp đỡ, yêu cầu học sinh vận dụng những điều đã biết để lí giải những chỗ không hiểu đó. Cũng vì thế, đọc hiểu như là nội dung dạy học văn góp phần làm thay đổi vai trò của học sinh đối tượng tiếp nhận trong giờ học, từ thụ động chuyển sang chủ động, đáp ứng được những yêu cầu về phẩm chất, năng lực của con người trong xã hội hiện đại.

Đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình có một ý nghĩa rất lớn đối với học sinh chuyên Văn. Học sinh vừa mở rộng kiến thức về tác phẩm văn học, bước vào thế giới hấp dẫn của văn chương, vừa rèn luyện kĩ hơn năng lực đọc hiểu, năng lực giao tiếp thẩm mỹ. Học sinh chuyên Văn sẽ có cơ hội rất lớn phát huy những năng lực chủ quan của người tiếp nhận văn học. Hơn thế, khi tiếp nhận tác phẩm văn học ngoài nhà trường, học sinh vừa đóng vai trò là bạn đọc học sinh trong nhà trường (chịu sự tác động của những quy luật đọc hiểu những tác phẩm trong nhà trường), vừa có cơ hội đóng vai trò là bạn đọc xã hội (học sinh cũng có thể tự lựa chọn những tác phẩm văn học mà mình yêu thích, sở trường, hứng thú riêng của bản thân) để phát huy hết năng lực thẩm mỹ của mình. Nhưng chủ yếu, với học sinh chuyên Văn, đặc biệt đối tượng là học sinh giỏi, việc đọc hiểu các tác phẩm ngoài chương trình có tính ứng dụng thực tiễn trong làm văn, vận dụng vào các đề nghị luận văn học làm rõ kiến thức lý luận văn học.

Đóng góp của chuyên đề: Bên cạnh việc giúp học sinh hiểu rõ hơn những vấn đề về lý thuyết đọc hiểu tác phẩm văn học, cung cấp những phương pháp, biện pháp đọc hiểu một tác phẩm văn học nói chung thì đề tài đã đề xuất những tiêu chí cụ thể định hướng cho học sinh lựa chọn được tác phẩm ngoài chương trình hay, phù hợp với học sinh và có tính ứng dụng thực tiễn cao. Đóng góp chủ yếu của chuyên đề là phần thực hành đọc hiểu các tác phẩm ngoài chương trình và vận dụng kiến thức tác phẩm ngoài chương trình trong làm văn – vận dụng vào các đề lý luận văn học thi học sinh giỏi.

  1. Ý kiến đề xuất

2.1. Với giáo viên dạy chuyên Văn

– Thường xuyên chia sẻ những phương pháp đọc hiểu tác phẩm văn học, đặc biệt là các xu hướng tiếp nhận tác phẩm văn học mới từ nhiều nguồn nghiên cứu khác nhau để học sinh chuyên Văn có thêm những công cụ tiếp cận tác phẩm.

– Giới thiệu cho học sinh những tác phẩm mới ngoài chương trình qua nhiều hình thức. Nhóm thành chủ đề, chẳng hạn giới thiệu cho học sinh những cụm chủ đề tác phẩm như: “10 tác phẩm kinh điển đạt giải Nobel văn học đã được dịch sang Tiếng Việt”; “10 tác phẩm văn học không thể bỏ qua trong đời”; “Tốp 10 tác phẩm văn học hay nhất mọi thời đại”; “Mười hai cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất thế kỉ XXI”; “9 cuốn sách văn học Việt Nam hay nhất viết về tuổi thơ”; v.v…Chính từ bản thân cách giới thiệu ấy đã kích thích sựu tò mò, ham tìm kiếm của học sinh. Học sinh sẽ tự đặt ra câu hỏi “Mười tác phẩm văn học không thể bỏ qua trong đời là những tác phẩm nào?”, vậy là học sinh bước chân tìm kiếm, nhất là hiện nay việc tìm tác phẩm ngoài chương trình qua các trang mạng internet để đọc rất phổ biến. Sự khơi nguồn, đánh thức chính là khởi đầu khiến cho các em khám phá tác phẩm ngoài chương trình tốt hơn.

– Bồi dưỡng năng lực viết văn thông qua các bài viết có ứng dụng các tác phẩm văn học ngoài chương trình để học sinh chuyên Văn thấy được tính ứng dụng thực tiễn hco việc học tập của bản thân.

– Tăng cường giao lưu trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giữa các giáo viên ở các trường chuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, chia sẻ nhiều kinh nghiệm hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm một cách hiệu quả nhất.

2.2. Với học sinh chuyên Văn

– Tự trau dồi, rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình và vận dụng thường xuyên trong làm văn (không chỉ vấn đề nghị luận văn học mà cả vấn đề nghị luận xã hội).

– Tạo cho mình niềm đam mê đọc sách để có thêm nhiều tri thức đọc hiểu cần thiết khi đọc hiểu tác phẩm. Bởi không phải tác phẩm nào đọc cũng có thể hiểu ngay được nếu thiếu phông nền tri thức về văn hóa, con người của đất nước đó, kiểu văn chương của tác giả đó.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Svetlana Alexievich (2016), Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, NXB Hà Nội.
  2. Nguyễn Thị Quế Anh (2007), Bồi dưỡng năng lực nhận thức, đánh giá và thưởng thức ngôn ngữ nghệ thuật cho HS trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT, Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, H
  3. Bùi Thu Hà (2003), Về một số biện pháp giảng bình tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục số 54, H
  4. Nguyễn Thái Hòa (2004), Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu, Thông tin khoa học Sư phạm, số 05, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, HN.
  5. Nguyễn Thanh Hùng (2001), Hiểu văn – Dạy văn, NXB Giáo dục, H.
  6. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục, H.
  7. Nguyễn Thanh Hùng (2014), Kĩ năng đọc hiểu văn, NXB ĐH Sư phạm,
  8. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học.
  9. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở nhà trường phổ thông, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội.
  10. Phạm Thị Thu Hương (2014), Đọc – hiểu và chiến thuật đọc – hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, NXB ĐH Sư phạm, H.
  11. Phan Trọng Luận (2003), Văn chương bạn đọc sáng tạo, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, H.
  12. Trần Đình Sử (2003), Đọc – hiểu văn bản – Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy Văn hiện nay, Thông tin khoa học Sư phạm, số 1 tháng 3, H.
  13. Tràng Thiên (2012), Quê hương tôi (Tùy bút), NXB Thời Đại
  14. Ken Kesey (2011), Bay trên tổ chim cúc cu (Tiểu thuyết), NXB Văn học.
  15. Alessandro Baricco (2011), Lụa (Tiểu thuyết), NXB Văn học.
  16. https// www.thivien.net

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: KHÂM THIÊN

(Thơ)

                 Lưu Quang Vũ

những người chết trong đêm thân gãy nát

óc chảy ròng trên gạch

những người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng

những xác vùi đẫm máu dưới cầu thang

tay chân vặn vẹo thịt xương

lòng ruột mắc trên dây điện

phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp

tiếng người la khủng khiếp xé đêm dài

 

mặt trời lên trên bãi thây người

mặt giập vỡ ngực trần thủng hoác

những đống tóc gân đầu mình lẫn lộn

những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm

bốn phía tiếng gào tiếng khóc tiếng rên

tiếng xẻng cuốc bới người trong gạch vụn

phố đông đúc thành bãi bằng đổ nát

không nhận ra những vỉa hè quen

xác người nằm ngổn ngang

báo đậy mặt, ruồi đậu bàn chân xám

bé ngẩng đầu ngơ ngác

bên xác anh xác chị xác mẹ cha

tôi đi như mù loà

đỡ em gái đập đầu ngã ngất

bà cụ phát điên vật mình ôm mặt

người mất tích đang tìm, người chết chẳng kịp chôn

xe nối xe sừng sững chở quan tài

đóng vội bằng mặt bàn, cánh cửa

phấn run rẩy ghi tên người xấu số

lên nắp quan tài xộc xệch chẳng bào sơn

quan tài trẻ thơ như những chiếc hòm con

những bát đĩa tủ giường tan vỡ

quần áo nát, gạo dầu ngùn ngụt lửa

sách vở dép giày vùi dưới hố sâu

tấm màn trắng xoá

xé chia nhau chít vội lên đầu

cả khu phố già đi hàng chục tuổi

những bó hương bên đường nghi ngút khói

những bó hương châm nát cả bầu trời

người trồng rau, chữa khoá, vá may

người nhặt củi, quét đường lam lũ

từ nay chung buổi giỗ

Bạch Mai Yên Viên Vọng Láng An Dương

phố đầy khăn tang

đêm không đèn tối mịt

chúng tôi ngồi bên nhau chờ cái chết

người các ô lên nằm ngủ vườn hoa

gió cuối mùa xót xa

thổi xoã tóc đoàn người chạy giặc

những dòng người kéo đi xé ruột

đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc

chút gia tài nghèo cực địu trên lưng

bao gia đình dắt díu chị bồng em

những quần áo khói bom lấm rách

những cụ già vịn nhau dò dẫm

máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương

 

năm 72! Có thể thế được chăng

hãy mở mắt ra trông

vụ thảm sát xưa nay chưa từng có

năm trái đất phóng bao tàu vũ trụ

không nơi nào không nói đến tình thương

Ghéc-ni-ca cũng chẳng thảm thê bằng

vô nghĩa hết, Thánh kinh và máy tính

những pho sách, những dàn giao hưởng

ích gì đâu, khi bể máu dâng đầy

Ôi xấu xa, đê nhục lắm con người

lời không đủ để nói điều phẫn nộ

tôi muốn có phiên tòa cho tất cả

tôi vạch từng tên tôi gọi từng người

hãy đứng ra đây

các bà mẹ Mỹ

những dòng sữa đã nuôi bầy đồ tể

lời ru nào đã dạy chúng lớn khôn

những Kít-xinh-giơ và những Ních-sơn

ta nguyền rủa chúng mày cho đến chết

những kẻ nào đã gây ra tội ác

những kẻ nào để tội ác gây ra

những chính khách những nhà thơ

những bộ óc chế súng bom huỷ diệt

các tư tưởng cầm quyền các nước

lãnh tụ tối cao của mọi đảng trên đời

các ông kêu: vì hạnh phúc con người

nay con người chết đi

cái phúc ấy ai dùng được nữa!

chục chiếc B-52

không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ

không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì

bắt máu vạn dân lành phải đổ

không thể chắp bình minh

bằng xương thịt những mặt người vỡ nát

ai tự xưng môi kề răng lạnh

ai khoác tặng chúng tôi vinh dự đẹp

các anh đón đưa nâng cốc chúc hoà bình

các anh quyên thuốc men các anh đi biểu tình

rồi thanh thản trồng hoa và câu cá

và tìm thấy lương tâm mình yên ả

trong nỗi đau quằn quại của chúng tôi

ta oán giận các người, đồ dối trá

loài người chung vai nhận tội ác này

anh và tôi, vâng, tôi nữa, cả tôi

chúng ta đã ngu tối đến nỗi

không che chở được mẹ già em dại

khỏi quả bom tàn bạo tự trời cao

 

muốn kết thúc thơ mình

bằng những lời tốt đẹp

nhưng lòng tôi làm sao tươi sáng được

khi máu bầm khắp nơi

dưới bát cơm trên trời trong cốc nước

đêm qua tôi đã chết

với hàng ngàn mạng người

từ than bụi tôi hiện hình trở lại

mang đau thương đến trọn cuộc đời

tôi sẽ xông vào mọi cuộc vui

mọi buổi lễ uy nghiêm

mọi bài ca lừa dối

mọi quên lãng mọi nụ cười dễ dãi

để nói về những xác chết cháy đen

để nói về

những xác chết cháy đen

 

kẻ làm chứng trung thành

trước phiên tòa lịch sử

giữa tột cùng đau khổ

đâu dám ngồi trau chuốt mỗi câu thơ

nhân danh cuộc sống, nói về cái chết

nhân danh niềm vui, nói về nước mắt

nhân danh tình yêu, tôi mãi mãi căm thù.

 

Phụ lục 2: TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG

(Truyện ngắn)

Trần Thùy Mai

“Tôi xin mình, mình dẹp giùm tôi mấy cái bàn thờ này đi. Chuyện mê tín dị đoan, đâu hay ho gì”.

Giọng thầy Phương vẫn từ tốn như thường lệ, nhưng đôi bàn tay liên tục gõ xuống bàn chứng tỏ tâm trạng thầy đang bức xúc. Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn: người đàn ông này đã là người cô thương yêu, tôn thờ cho đến nửa đời người. Trước đây, mỗi cái nhìn của ông là mệnh lệnh đối với cô, vậy mà nay cô phải trái ý ông. Ý nghĩ đó làm cô rơm rớm nước mắt.

Hơn mười mấy năm, họ đã sống chung nơi căn hộ bé nhỏ này. Mỗi sáng, người trong xóm đều thấy cô Hạnh xách tô ra đầu ngõ mua bún cho chồng. Những hôm mưa lâm thâm, cái dáng gầy của cô co ro, tay cô cầm chiếc nón cố che cho kín tô bún, chứ chẳng nhớ che đầu. Thầy Phương người nho nhã, mảnh mai, trắng trẻo. Vốn là con nhà dõng dõi, lại được cưng từ nhỏ nên thầy kén ăn, phải chăm từng li từng tí.

Nói là kén ăn, không phải là thầy đòi hỏi cao lương mỹ vị, mà chỉ cần những thứ đơn giản thôi, nhưng phải biết ý mới chiều được. Bữa ăn không cần thịt cá, đôi khi chỉ cần đĩa bông bí chấm nước tôm kho đánh, nhưng nước tôm phải thật sánh, thật thơm, đỏ rực. Thịt bò thì nhất định phải nấu canh với hoa thiên lý, tô canh dìu dịu mùi hương ngọt ngào. Đêm khuya ngồi đọc sách, chỉ cần ăn củ khoai bồi dưỡng, nhưng khoai phải ngọt, dẻo, hấp với lá dứa. Chiều thì vài lóng mía tiện thật sạch sẽ, ửng màu đỏ cầm rượu.

Căn nhà nhỏ không có đồ đạc gì xa hoa, nhưng sạch như lau như li. Tính thầy Phương rất sợ bẩn. Trong bếp, phòng tắm, những cái chậu đủ màu được cô Hạnh đặt đúng vị trí của chúng, tất cả đều khô ráo, sạch sẽ. Cái chậu rửa mặt ấy còn tinh tươm quá, này coi chứ chứ… chậm con là vì quá sạch đấy” – các bà hàng xóm đùa. Trong khu tập thể này, các bà đều là cán bộ, việc cơ quan, việc nhà cứ ùn lên, ai cũng bết bát, chẳng có thời giờ nào mà chiều chồng. Các ông chồng trong xóm nào là chẻ củi, đi chợ, đón con, chẳng từ một việc gì, chỉ riêng thầy Phương được hưởng ngoại lệ. Thực ra, đâu có phải vì thế mà hơn mười năm không có con. Cô Hạnh thừa biết điều đó nên nghe người ta đùa, cô chỉ cười…

Ở đầu ngõ, ngay cổng vào khu tập thể là nhà bà Thu, thư ký Công đoàn trường Thuận Đạt. Ngày ấy, bà Thu hội ý xong với Ban chấp hành Công đoàn trường và quyết định đến thăm chính thức cô Hạnh. Vì lý do tế nhị của cuộc thăm viếng, bà đã cẩn thận chờ cho đến lúc thầy Phương đạp xe ra khỏi, bà mới vào. Bà tìm cách nói với cô Hạnh: “Cô Hạnh này, người ta đồn anh Phương có vợ nhỏ, Công đoàn và Đảng uỷ đã tiến hành kiểm tra, thật đáng tiếc, việc này hoàn toàn chính xác”. Cô Hạnh nghe, ngồi nhìn thẳng vào mắt bà Thu, không tỏ vẻ ngạc nhiên. Trái lại, bà Thu kinh ngạc đến hụt hẫng trước vẻ bình thản của người vợ bất hạnh: bà cứ tưởng cô Hạnh sẽ ngất đi, hoặc ít ra cũng níu lấy bà mà hỏi vặn đủ điều. Nhưng không, cô cứ lặng lẽ, dịu dàng, dường như cố nén nỗi khó chịu vì bị quấy rầy!

Chờ mãi không nghe nói gì, bà Thu phát cáu: Chuyện đến thế, chị tính sao? Chị phải có thái độ đi chứ? Hay chị là Phật đất? Cô Hạnh thở dài: Hoàn cảnh em không có con, dù anh ấy có thế, em cũng chẳng oán trách. – Nói thế nghĩa là chị biết anh ấy phản bội chị mà cố tình giấu giếm tổ chức? Anh ấy không phản bội tôi – cô Hạnh ngẩng phắt lên. Vâng, dù rằng ông Phương đã có một người đàn bà khác, có một đứa con không do cô sinh ra, ông vẫn là vị Thánh sống đối với cô. Cô không cho phép ai nặng lời khi nói về ông ấy. Bởi tất cả những chuyện này là do cô: cô đã tự tay sắp đặt, chỉ vì không chịu nổi vẻ buồn thầm lặng trên khuôn mặt ông.

“Không phải dễ dàng mà thuyết phục được anh ấy – Bởi vì anh ấy quá thương tôi. Hơn nữa, là người có chức trách, anh không dám. Tôi phải năn nỉ, ép uổng, hứa giữ bí mật cho anh ấy…” Bà Thu cau mày: “Sao chị lại làm thế? Chị có biết như vậy là phong kiến cổ hủ không? Chính chị đã đẩy anh ấy vào con đường hủ hoá!”

Cô Hạnh khóc. “Vâng. Có thể là như vậy, nhưng lúc ấy tôi không nghĩ gì hết. Tôi chỉ muốn anh ấy sung sướng”. Vâng, khi người ta thực lòng thương yêu nhau, có điều gì mà không thể hy sinh. Một cô gái quê bỗng chốc được cô Hạnh chăm lo từng li từng tí: từng chục trứng gà, từng chai mật ong được chuyển về làng để tẩm bổ cái thai mới thành hình. Rồi đến ngày cô được đền bù: Đứa con trai ra đời, cô Hạnh bế lấy nó, đỏ hỏn trong lớp tã. Ông Phương quàng vai cô, vỗ về: Con của em đó. Nghe chồng nói, cô ứa nước mắt vì sung sướng…

Nhưng giờ đây, ngồi trước mặt bà Thu, cô mới thấy chuyện đời không đơn giản. Sắp đến kỳ bầu tín nhiệm hiệu trưởng rồi… Ông Phương bảo: Chức hiệu trưởng là cái gì… Bỏ, bỏ hết. Với tôi, chỉ cần mình vui lòng. Tôi chấp nhận mất tất cả.

Ông nói thế, nhưng rồi không giấu được vẻ buồn. Lại cái vẻ buồn trầm lặng làm xót lòng cô. Cả đời ông sống nghiêm nghị, không để ai nói tiếng nặng tiếng nhẹ bao giờ. Giờ đây, tưởng tượng tới khuôn mặt những người lâu nay vẫn đố kị với ông… Họ sẽ hả hê biết bao trước cái tội lỗi rành rành của vị Thủ tướng đáng kính. Họ sẽ rung đùi, cười khẩy chờ ông đứng lên nhận tội… Để rồi khoái trá xúm lại tổ khổ ông, như bầy sói túm lại xé con mồi…

Quả thật, cái tin “ông Phương hai vợ” vừa được tung ra, đã có vài ba người rắp ranh ngắm nghé cái ghế ông đang ngồi. Cuộc bầu tín nhiệm được tổ chức vào đầu tháng 3, được dự kiến như là ngày chôn vùi luôn sự nghiệp của ông hiệu trưởng nổi tiếng quản lý giỏi, đã đưa trường Thuận Đạt thành một trường tiên tiến dẫn đầu tỉnh trong hơn năm năm. Người ta chờ ông Phương đứng dậy rút lui và tự kiểm điểm, nhưng sao lâu quá chẳng thấy động tĩnh gì… Sốt ruột quá, một vị đứng dậy cắt ngang lời ông Phương khi ông còn đang trình bày “chương trình hoạt động” mà ông dự kiến sẽ thực hành trong thời gian tới.

Chuyện năng lực của anh Phương thì còn gì phải bàn nữa, dài dòng làm chi mất thời gian. Chỉ có điều, dư luận đang râm ran chuyện gia đình anh, anh em tui rất hoang mang. Vì, lãnh đạo thì không chỉ có tài mà phải có đức…

Ông Phương không nói, chỉ lặng yên bình thản nhìn kẻ địch thủ đang hân hoan, đắc thắng, rồi lại bình thản nhìn cái vẻ hân hoan, đắc thắng đó xẹp xuống, nhăn nhúm lại như một quả bóng xì xuống thất vọng. Bởi vì cô Hạnh đã đứng dậy đưa ra trước Hội đồng tờ giấy chứng nhận ly hôn giữa cô và ông Phương cùng tờ giấy đăng ký kết hôn giữa ông Phương với vợ mới. Lúc đó cả hội trường mới biết rằng, trên pháp luật, ông Phương chẳng có lỗi gì… Nghĩa là cái chức hiệu trưởng của ông, lấy búa tạ mà nện cũng không thể nào rung rinh nổi.

Không rung rinh nổi, nhưng người ta vẫn cứ tìm cách nện. Lòng người đầy ham muốn, đâu có buông tha cho ông Phương qua cửa ải một cách dễ dàng như thế. Vì vậy, trọn năm sau, ông Phương quả là lao tâm khổ tứ, ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.

Lại một lần nữa, bà Thu phải đến thăm riêng cô Hạnh. “Khổ thân chị, tôi tìm mọi cách trấn an dư luận để bảo vệ chị, nhưng mà người ta không thể thông cảm như tôi. Nói chị đừng buồn, hoàn cảnh chị rất gay. Chị đã phạm pháp mà không biết: sống chung như vợ chồng với chồng của người khác!

Cô Hạnh sững sờ. Giờ đây ông Phương có còn là chồng của cô nữa đâu? Cô nhìn thằng bé đang thiêm thiếp ngủ trong tay run rẩy. Cô biết, người ta đang lôi tuột ông ra khỏi tay cô. Cô sẽ phải xa ông, bất giác, cô ôm chặt lấy cu Nhứt, như cố níu giữ cái phiên bản của người đàn ông mà cô tôn thờ…

***

Lại một lần nữa, tôi phải năn nỉ anh. Tôi không đành lòng thấy anh cứ gầy rộc đi, mắt hõm, râu mọc xanh cả cằm. “Quân tử ứ hự đã đau, Tiểu nhân dùi đục đập đầu như không”. Anh vẫn thường nói thế. Con người anh tinh tế, tự trọng, chịu sao nổi bao nhiêu lời ong tiếng ve. Đành lòng dốc hết tiền của góp trong người mười mấy năm mua một căn nhà ở ngoại ô cho anh ấy đưa cô Thắm lên. Lúc ấy, Thắm lại đang có thai. Thương tôi, anh ấy không chịu rời đi, tôi phải cắn răng làm mặt giận, cấm lửa nhịn đói suốt mấy ngày…

Anh đi rồi, căn nhà trống đến khủng khiếp. Đi làm về, tiếng mở cửa tiếng bước chân tôi cứ vang lên lạnh lẽo như từ thế giới nào. Vào đến gian bếp, nhìn thấy chiếc may ô của anh còn sót lại trên dây phơi, tôi sụp xuống, nức nở khóc…

Thỉnh thoảng anh cũng về thăm tôi. Nhưng anh về một chút rồi lại đi. Tôi không dám trách. Sắp đến đại hội chi bộ, phải giữ gìn. Anh có muốn nấn ná tôi cũng giục anh đi cho được. Anh bảo: “Mình đừng buồn. Tôi nói với mình đinh ninh từ khi chưa ly hôn. Nay cũng thế, tôi ở bên ấy nhưng thực ra chỉ có mình mới là vợ của tôi”. Tôi nghe, chỉ biết khóc. Vợ chồng mà gặp nhau lén lút như thế này, cái số tôi sao mà trớ trêu? Có hôm bị bệnh nằm một mình không dám nhắn chồng, tôi đành nhắn người mời bà đồng Thơi đến chích lễ giải cảm. Bà Thơi vừa nặn máu cho tôi vừa bảo: “Khí đen tụ ở giữa hai chân mày. Cái uất nén trong lòng mà thành bệnh”. Tôi lắc đầu: “Tôi không uất, không phiền. Chỉ vì mệt mỏi quá”. Cô Thơi sửa lại áo khăn thắp nén hương giữa trời. Hôm ấy rằm, trăng sáng. Cô Thơi niệm khấn rồi cầm chén nước trong bảo tôi uống. “Để tôi xin cho chị một quẻ Thánh”. Cô Thơi xủ quẻ rồi nói: “Quẻ của chị là quẻ lộng giả thành chân. Đêm trăng nơi đáy giếng, thấy bóng chẳng thấy hình. Cứ theo quẻ này giả hoá thực, thực hoá giả, giả thực thực giả khó lường”. Tôi cũng không tin mấy, chỉ cảm thấy dễ chịu vì có người quan tâm. “Việc gì thực hay giả, mà giả thực liên quan gì đến bệnh cảm của tôi?”. Cô Thơi nghiêng đầu như làm duyên, cặp môi son hé cười: “Lời Thánh sâu xa, nhiều khi đến việc mới hiểu”.

Đại hội Chi bộ đã qua, anh lại được tín nhiệm cao. Tôi mừng. Tôi nhắn Thắm chăm sóc anh cho chu đáo. Không có ai khó chăm như anh. Cái gì cũng phải sạch, phải tinh tươm. Áo quần gấp xong nhớ đặt vào tủ, ngay ngắn, bộ nào sắp mặc thì đặt cuối giường chứ đừng đặt đầu giường. Chỗ anh ấy ngồi viết thì phải tinh tấn, ngăn nắp, đừng qua lại nhiều làm phiền anh. Tôi dặn gì, Thắm cũng nhất nhất vâng dạ. Thấy Thắm ngoan, tôi mừng.

Tết đến, tôi lo mua nếp gói bánh. Năm nay nhà đông phải gói nhiều. Đang loay hoay tìm mua lá dong, chợt nghe nói bà Thu sắp có dịp về quê, tôi lật đật sang nhờ bà ấy mua giúp. Vào đến cửa, tôi chững lại khi nghe tiếng anh Phương, rồi tiếng Thắm. Một giỏ quà, ý chừng đồ đi tết, đang nằm trên ghế. Bà Thu cười: Không có tôi thì anh chị còn mỗi người một nơi đến bao giờ? Nhưng mà nói vậy chứ không nhận quà này nhé. Bày vẽ làm gì, cái tình với nhau là chính”. “Ấy, chút quà xin chị nhận cho, của thảo lòng thành”. Tôi rụng rời, không nhận ra được giọng cô gái quê thơ ngây chất phác sáu năm về trước… Bà Thu ngọt ngào: “Cái cô Thắm này khéo thật, chả trách bà Hạnh cất công tìm tòi chọn lựa mãi”. Tiếng Thắm cười: “Chị ấy tưởng thế thôi chứ thực ra trước khi bà thím giới thiệu với chị thì anh Phương đã gặp em mấy lần khi về quê ăn giỗ”. “Quả là chồng khéo vợ khéo, trách gì chẳng thành đôi”. Họ cười, tiếng cười vui vẻ râm ran trong đêm yên ả…

Tôi rút lui, suýt ngã khi xuống thềm. Rồi cứ đi trong đêm như người ngây, mãi đến lúc bước vào một ngôi nhà, ngửi thấy mùi nhang trong không gian, và nhận ra mình không hiểu từ lúc nào đã đến nhà cô đồng Thơi. Tôi ngồi sụp xuống nền nhà mà khóc, nhớ lại lời cô nói với tôi đêm trăng hôm nào. “Nín đi em. Em giỏi nín đi. Rồi cô soi cho, cho thấy hết tiền oan nghiệp chướng”. Cô cứ tỉ tê khóc, cô nạt: “Sao lại khóc? Mất gì đâu mà khóc. Cái mất, thực ra đã mất từ lâu rồi. Chừ còn ôm huyễn mộng mà kêu trời như con đười ươi ôm cái ống tre rỗng mà cười một mình giữa núi”. Lời cô Thơi làm tôi tỉnh ra. “Tôi sai rồi, còn oán ai. Người ta là vợ chồng, đã có con cái. Còn tôi… tôi chỉ là một vật thừa…” Cô Thơi hứ một tiếng, đỏng đảnh: “Đã thương thì thương cho trót, đã vót thì vót cho tròn. Đã giữ thì giữ riết luôn, đã cho thì cho đứt”. Tôi bỗng ngượng ngùng, không khóc được nữa. Ừ, đã cho thì cho đứt luôn, sao tôi đã nói hy sinh mà còn tiếc nuối. Nhưng là người có máu có thịt, làm sao bỗng chốc cắt lìa? Tôi đâu có phải Thánh mà một phút dứt bỏ nửa cuộc đời… Không, không phải nửa cuộc đời, anh là cả cuộc đời tôi…

Tết năm ấy, tôi sốt li bì, suốt ba tuần rụng gần nửa đầu tóc. Chiều mồng ba tết, mở mắt ra, thấy anh Phương và Thắm ngồi trước giường. Tôi thở dài, se sắt. Tôi mong gặp một mình anh, một lần. Để tôi mơ ước được mạnh trở lại, được để dành cho anh cái thau sạch, cái khăn sạch, lựa cho anh củ khoai thật bùi thơm ăn khuya, đọc sách. Nhưng anh không dám đến đây một mình… Tôi ứa nước mắt nhìn hai vợ chồng – vâng, họ mới là hai vợ chồng. “Tôi hiểu cả rồi. Hai người không phải lo cho tôi. Cho thằng cu sang đây với tôi là đủ. Có nó là tôi sống được”. Thắm giặt khăn lau mặt cho tôi. Anh Phương không nói gì, cũng chẳng dám tỏ thái độ gì. Tôi cố bình thản che nỗi xót xa. Tôi mất anh rồi, sự thực đã như thế từ lâu mà giờ này tôi mới bẽ bàng nhận ra…

Tháng sau, Thắm sinh con thứ hai, lần này là con gái. Cu Nhứt về ở với tôi, thằng bé bồng theo một con chó con. Căn nhà tưng bừng lên vì tiếng trẻ con cười, tiếng chó gâu ăng ẳng. Tôi như người sống lại. Thằng bé gọi tôi là mẹ Cả. Tiếng gọi thật ngọt ngào. Tôi rất muốn thằng bé gọi tôi chỉ là “Mẹ” thôi. “Như thế thì cu lầm với mẹ hai. Ba bảo cu: Mẹ cả, mẹ hai, hai mẹ đều là mẹ cả, mà!”. Tôi bật cười. Cu Nhứt thông minh y như ba nó. Cái mắt sáng, cái da trắng, cái chân mày nét ngang, tất cả đều là của anh. Mặc thằng bé gọi tôi bằng gì đi nữa, nó vẫn là con tôi. Tôi lại trồng khoai, lại nuôi gà, lại để dành từng quả trứng. Thằng bé ăn, tôi thấy ngon. Đêm nó ngủ dụi đầu vào lòng tôi. Tôi đã có con, tạ ơn trời, giờ đây tôi không cần gì hơn nữa…

Lại tháng chạp, tôi đến cô Thơi xin cho cu Nhứt cái bùa đeo cổ để đeo đi chơi tết. Cô Thơi mới tạc pho tượng ông hoàng đứng trên mây, vừa rước lên bàn, thắp nhang xong thì quay ra thấy tôi. Đưa bùa cho tôi xong, cô bấm quẻ dịch rồi bảo: Chiều lòng chị thì rước cho chị, chứ chị xin nhằm giờ không vong, vật tuy có nhưng mà vô dụng.

Tôi băn khoăn về nhà. Ngày xưa, anh Phương thường trách tôi mê xem bói. Anh không biết đó là chỗ dựa tinh thần của những người đàn bà hay bối rối như tôi… Đến cửa, tôi giật mình khi thấy Thắm. Cu Nhứt quấn mẹ đẻ, cười rúc rích. Thắm khẽ khàng thưa gửi:

– Trình chị, em đã cai bú cho bé, nay xin chị cho cu Nhứt về nhà ăn tết với em.

Tôi khựng lại, đau đớn. Một lát sau tôi đeo cái bùa vào cổ cho cu Nhứt:

– Đeo cho em kẻo đi đường gió máy. Mà ăn tết xong mồng mấy mới cho em về?

Thắm không nói gì, chỉ nhìn tôi, một cái nhìn khó hiểu.

Thằng bé đi rồi, còn lại con chó con luẩn quẩn với tôi. Đã một năm, giờ nó đã choai choai, láng mượt. Cu Nhứt dặn: “Mẹ cả nuôi cẩn thận cho cu”. Bao nhiêu thứ dành cho thằng bé, giờ xẻ hơn nửa cho nó. Thui thủi vào ra, chỉ có nó và tôi.

Từng ngày, tôi chờ con trở về, càng ngày càng trông càng ngóng. Nhiều hôm, nghe tiếng thằng Tèo nhà bên cạnh gọi: “Mẹ ơi!” giọng trẻ con sao mà giống nhau, tưởng con về, đang làm gì tôi cũng vứt hết chạy ra. Chỉ thấy sân hiên vắng lặng, không một bóng người…

Rằm tháng giêng. Con chó đột nhiên bỏ đi đâu mất. Tôi tìm ngất ngơ quanh xóm chẳng thấy. Lòng cồn cào lại càng nhớ, càng thương cu Nhứt. Góp được một chục trứng gà, tôi lững thững đạp xe đi thăm con. Lâu lắm mới đến nhà mới, tôi ngạc nhiên vì nó lạ hẳn so với cái thời hai vợ chồng đến mua. Cây cỏ mọc xanh trong sân, một mái hiên rộng được cơi thêm ra, thoáng mát. Tôi từ từ bước, phân vân như đi vào một ngôi nhà lạ.

Cu Nhứt đang chơi ở hiên sau. Vừa đùa với quả bóng, thằng bé vừa hát: “Trên trời cao, có muôn ngàn ánh sao… Nhưng mặt trời chỉ có một mà thôi. Và mẹ em chỉ có một trên đời. ..”. Thấy tôi, thằng bé reo lên, chạy ùa vào lòng tôi… Nhưng nó bỗng khựng lại, đưa mắt nhìn vào trong, rồi cầm tay, thỏ thẻ: “Mẹ Thắm bảo con, thời này mà còn mẹ cả, mẹ hai, nghe cổ hủ lắm. Vậy con gọi bằng gì?”. Tôi ôm cái đầu nhỏ bé vào lòng, chỗ có trái tim phập phồng đau đớn. “Thôi thì… Con hãy gọi bằng bác… Bác tệ quá, hôm qua đã làm mất con chó Cún của con”. “Ồ, không mất, bác ơi, nó đây này!”. Con cún từ sau vườn chạy tới, nhảy lon ton, vẫy đuôi rối rít. Ôi, cả con chó cũng bỏ tôi tìm về đây mất rồi!

Bàng hoàng, tôi đứng dậy, bước đi. Rỗi bỗng quay lui, tôi dạo một vòng sau nhà, như muốn nhìn tận mắt cái thế giới đang hút về tất cả những gì yêu quý nhất của một đời tôi… Sau sân, anh Phương ngồi bên vòi nước, đang lúi húi giặt một đống quần áo đủ loại, đánh đánh chà chà trên sân xi măng. Chưa bao giờ thấy anh trong tư thế như vậy nên tôi sững sờ, ngẩn cả người không sao nói một lời. Không hiểu sao đã chịu đựng bao nhiêu điều nặng nề, mà giờ đây tôi lại không kham nổi cái cảnh tượng hết sức bình thường thế này? Thắm đang ngồi dỗ con, thấy tôi vào chỉ cười, hất hàm về phía đức ông chồng: “Làm trai, học sẩy học sàng. Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn”. Tôi ngẩn ngơ như người mất hồn, lẩn thẩn nói: “Ngày trước ở với tôi, anh ấy chẳng phải động tay tới việc gì. Tôi đi vắng mà trời mưa, anh ấy cũng chỉ lôi giùm tôi cái áo trên dây phơi, chứ cái quần để mặc cũng không hề đụng đến”. Thắm khủng khỉnh: “Em thấy chị cũng sạch chứ đâu có bẩn. Mà người quân tử có sợ bẩn thì dùng khoèo mà khoèo, rồi dùng xà phòng mà rửa khoèo cũng được chứ sao?” Tôi cảm thấy như có quả đấm giáng vào giữa mặt, lảo đảo, trời đất chung quanh tối sầm. Cố gắng về đến nhà, tôi lăn ra mà khóc, khóc thảm thiết. Láng giềng nghe tiếng hờ trời hờ đất chạy sang hỏi: “Ai chết thế?”. Tôi không nói được gì, không nghĩ được gì, trong tâm trí chỉ có mỗi một hình ảnh: thần tượng của tôi, vị thánh sống của tôi ngồi chò hỏ giặt đồ bên bể nước. Những bọt trắng xà phòng bay, bay tấp tới, nhận chìm tôi, tức tưởi, mê man…

Lại một lần nữa, tôi ốm nặng, tóc rụng lả tả trên gối, nhưng không báo với ai để khỏi ai bận lòng.

Đấy là chuyện đời chồng trước của tôi…

***

Người trong xóm cứ tưởng cô Hạnh phen này chết vì mấy lần cô bắt chuồn chuồn, cấm khẩu. Họ ngạc nhiên khi thấy cô không thuốc men gì mà lại đi đứng như thường. Cô xin về hưu non, cuốc đất, làm vườn, lại sống cái đời cần cù và đạm bạc như thuở nào. Sáng sáng, họ lại thấy cô mua bún bò, bưng vào ngược con ngõ, những bữa trời mưa lâm thâm cô kéo chiếc nón che tô bún, quên cả che đầu.

Rồi trước hiên nhà lại xuất hiện những cái áo nho nhỏ màu đỏ, màu xanh phơi trên dây. Ai đi ngang hỏi, cô cười hiền lành: Áo thằng cu. May cho cu mặc tết”.

Nếu ai tò mò đi theo cô vào căn nhà vắng lặng, có thể thấy ngay giữa nhà là một bàn thờ đồ sộ mà cô gia công trang hoàng như một cung điện rực rỡ vàng son. Giữa bàn thờ là tượng một người đàn ông đẹp đẽ phương phi, tay cầm kiếm, chân đạp lên mấy tầng mây. Có hỏi thì cô thì thầm: “Ông Hoàng Bảy, trấn thủ tỉnh Thừa Thiên”.

Rằm, mồng một, cô chất hương hoa đầy thánh điện của cô, rồi ra nhà bà đồng Thơi lễ bái. Nghe đâu bà đồng Thơi bảo rằng số cô Hạnh không theo ông Phương được trọn đời vì người âm ưng, mà người âm này vai vế lớn lắm, con thứ bảy của Đức Mẫu, quyền sinh sát cả một giang sơn. Lâu nay, ông với cô Hạnh đã được một con trai ở cõi vô hình, mà cô Hạnh đâu có hay.

“Nhờ có Thánh cứu, chứ không thì mấy trận đau, hắn đã chết trọc óc chứ mô còn tới chừ”. Bà Thơi nói. Cô Hạnh cười, vẫn cái cười dịu dàng, không còn buồn thảm như xưa, mà phảng phất một vẻ mơ màng – vẻ mơ màng thường thấy trên gương mặt những người lãng trí. “Sắp tới tháng Ba rồi, phải không chị? Tháng Ba ni chị cho em đi về chầu điện Hòn Chén”. Bà Thơi nghe cô Hạnh nói, hài lòng gật đầu. “Ừ, tháng Bảy giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ. Lễ hội tháng Ba này em cũng nên về chầu Đức Mẫu cho phải đạo dâu con”.

Đầu tháng Ba, ông Phương bỗng về thăm vợ cũ. Từ đó, người ta thấy ông qua lại luôn. “Năm lần bảy lượt tôi nói với mình, mình dẹp cái trò mê tín đó đi giùm tôi. Vì cái chuyện đồng bóng lễ bái của mình mà tôi mang tiếng nhiều lắm rồi, dù gì thì mình cũng là vợ cũ của tôi, một hiệu trưởng, một đảng viên…”. Cô Hạnh chẳng nói gì, đang lo đặt đĩa khoai luộc nóng hổi lên bàn thờ. Trông dáng vẻ cô ân cần chẳng khác gì trước đây chăm chút cho ông. Cử chỉ đó làm ông Phương thêm bực tức . “Mình muốn trách khéo tôi phải không? Mình biết là đâu phải tôi muốn thế, chính mình đã muốn hy sinh cho tôi… Tôi xin mình, hãy vì tôi lần nữa…”.

Cô Hạnh đã đặt xong đĩa muối chấm khoai, thủng thỉnh ngồi xuống, nhìn ông Phương với đôi mắt rộng lượng như thể từ trên cõi tiên nhìn xuống thế giới nhỏ bé của loài người. “Hôm qua ông đã gặp bà Thơi phải không? Thảo nào bà ấy bảo tôi có muốn quay về với ông thì để bà ấy xin cho cái lễ chẻ đôi chiếc đũa đồng tiền, li dị với ông Hoàng…”.

“Mình đừng giận tôi, thuở ấy người ta còn khắt khe, mình cũng biết hơn ai hết. Giờ đây quan niệm về đời tư cũng cởi mở hơn trước, thỉnh thoảng tôi lại về thăm mình. Để mình thui thủi thế này tôi cũng chẳng đành lòng”.

Cô Hạnh nhìn ông Phương một lát rồi cười. Cái cười mơ màng lâu nay vẫn ẩn hiện trên gương mặt cô. “Ông à, thực ra tôi không giận ông. Nhưng chuyện ông nói thì không thể được. Tôi đã vì ông đến nửa đời người, nay ông yên phận rồi, hãy để cho tôi yên phận tôi. Xưa tôi là vợ mình, chỉ biết có mình, nay đã là vợ ông Hoàng, chỉ biết có ông Hoàng. Tôi đã nói với bà Thơi, tôi không cúng, không chẻ đũa, bẻ tiền chi hết, tôi không bỏ ông Hoàng vì ông ấy đỡ đần tôi khi thập tử nhất sinh, ông ấy không bỏ tôi, không ruồng rẫy tôi bao giờ…”.

“Nhưng làm gì có cái gọi là ông Hoàng, làm gì có cái bóng ma ấy, nó chỉ có trong trí tưởng tượng của bà thôi, bà có biết không?”. Ông Phương phát thịnh nộ, không tự chủ được nữa, đập mạnh tay xuống bàn mà nói như quát. Cô Hạnh đứng bật dậy, run bần bật như bị xúc phạm nặng nề. Hai hàm răng cô đánh lập cập vào nhau, rồi bỗng cô thình lình vớ lấy cả cái khay ấm chén trước mặt, ném vào người chồng cũ. Đến lúc ấy ông Phương vẫn không nhận ra rằng từ khi bị cô Hạnh bắt gặp ngồi giặt đồ bên bể nước, trong mắt cô, ông chỉ còn là một tượng thần đã mất hết linh thiêng.

Người trong xóm thấy ông Phương phóng xe ra ngược con ngõ, áo và tóc ướt từng vạt nước trà vàng vàng, mặt bừng bừng lửa giận. Hai hôm sau, việc đến tai bà Thu. Bà lắc đầu an ủi: “Chị ấy tốt bụng nhưng lý trí không vững nên tâm nó loạn. Trước đã bày ra chuyện phong kiến cổ hủ, nay lại sinh ra trò mê tín dị đoan. Thôi thì mặc ý chị ấy, tôi cũng hết phép”.

Cô Hạnh chẳng quan tâm đến ai, cứ vào ra trong ngôi nhà vắng tanh với nụ cười mãn nguyện của một người đàn bà hạnh phúc. Chiều hôm ấy cô thung dung đi chợ chọn mua vải may chiếc áo dài mới để tháng Ba này ngược sông Hương trảy hội mùa xuân.

Phụ lục 3: LỤA (Trích)

(Tiểu thuyết)

                                     Alessandro Baricco

20.Hervé Joncour là thượng khách của Nguyên Mộc trong bốn ngày. Như thể sống trong cung điện một ông vua. Cả ngôi làng sống cho ông, và không có một hành động nào, trong vũng đời này, mà không có mục đích để bảo vệ Ông hay mang lại niềm vui cho ông. Cuộc sống rì rầm, vẫn đọng chậm chạp một cách cố tình, mưu mẹo, giống như một con thú bị vây đón trong hang . Thế giới hình như xa đây hàng thế kỷ.

Hervé Joncour được dành riêng một ngôi nhà và năm người đầy tớ lúc nào cũng đi theo anh, bất cứ nơi nào. Anh ăn uống một mình, dưới bóng mát một cây nở những sắc hoa anh chưa từng thấy bao giờ . Một ngày hai lần, anh được dâng trà nước một cách trịnh trọng . Buổi tối, anh được đưa vào căn phòng lớn nhất nhà, nền lót đá, và anh thuận lòng làm theo nghi thức tắm rửa . Ba người đàn bà có tuổi, mặt đánh một loại phấn trắng nào đó, cho nước chảy trên thân thể anh và kỳ cọ, lau rửa bằng những tấm khăn lụa ấm . Bàn tay các bà rập nhúng nhẹ nhàng .

Buổi sáng ngày thứ hai, Hervé Joncour trông thấy một người đàn ông da trắng đến làng: theo sau là hai xe kéo bốn bánh chất đầy những thùng gỗ lớn. Anh ta người Anh. Đến đây không phải để mua. Đến đây để bán.

– Vũ khí đó ông. Còn ông ?

– Tôi à, tôi mua. Những con tằm.

Họ ăn tối với nhau. Tên người Anh có rất nhiều chuyện để kể: từ tám năm nay anh ta đi đi về về giữa châu Âu và Nhật Bản. Hervé Joncour chỉ nghe và chỉ vào phút chót mới lên tiếng hỏi.

– Ông có biết một người đàn bà, trẻ, người châu Âu, tôi nghĩ thế, da trắng, sống ở đấy ?

Tên Anh tiếp tục ăn, tỉnh queo.

– Không có đàn bà da trắng ở Nhật . Không có lấy được một người đàn bà da trắng nào trong khắp nước Nhật.

Tên Anh ra đi ngày hôm sau, túi nặng vàng.

  1. Hervé Joncour chỉ gặp lại Nguyên Mộc vào sáng ngày thứ ba . Anh chợt nhận ra là năm người đầy tớ bỗng dưng biến đâu mất, tưởng như bị hóa phép, và một lát sau anh thấy ông đến nhà . Con người mà tất cả người, việc trong làng này sinh tồn xung quanh, lúc nào cũng di chuyển trong một cái bong bóng trống rỗng . Làm như có một mệnh lệnh ngầm nào đó bắt mọi người phải để ông sống một mình.

Họ cùng nhau trèo lên sườn đồi, đến một quãng rừng trống mà bầu trời trên đầu bị hàng chục con chim bay với những đôi cánh lớn màu xanh nước biển vạch ngang, vạch dọc.

– Dân ở đây nhìn chim bay, và đoán được tương lai, hậu vận theo đường bay của chim.

Nguyên Mộc nói.

– Khi tôi còn là đứa trẻ, cha tôi dẫn tôi đến một chỗ giống như chỗ này, ấn vào tay tôi cái cung và ra lệnh cho tôi bắn một con trong đám chim như thế này . Tôi bắn, và một con chim lớn có đôi cánh xanh màu nước biển rớt xuống đất như một cục đá . Hãy đọc đường tên bay, nếu con muốn biết tương lai mình ra sao, cha tôi nói với tôi lúc đó.

Những con chim bay chậm chạp, bay lên trời cao rồi bay xuống lại như thể chúng muốn xóa đi, một cách tỉ mỉ, bầu trời bằng đôi cánh.

Họ trở về làng, bước đi trong ánh sáng lạ thường của một buổi chiều lại giống như buổi tối . Đến trước ngôi nhà dành riêng cho Hervé Joncour, họ chào chia tay . Nguyên Mộc quay lưng và bắt đầu bước, chậm rãi, đi xuống trên con đường chạy dọc theo bờ sông . Hervé Joncour vẫn đứng yên, trước ngưỡng cửa, nhìn theo ông: anh chờ ông đi chừng hai chục bước chân mới lên tiếng.

– Khi nào thì ông nói cho tôi biết cô gái đó là ai ?

Nguyên Mộc vẫn bước tiếp, chậm chạp nhưng không phải vì mệt mỏi . Chung quanh ông, chỉ có sự im lặng tuyệt đối, và sự trống không . Như thể tuân một mệnh lệnh đặc biệt, đi bất cứ đâu, ông luôn đi trong một nỗi cô đơn vô điều kiện, và hoàn hảo.

22.Buổi sáng ngày cuối cùng, Hervé Joncour ra khỏi nhà và bắt đầu đi lang thang trong làng . Anh gặp những người đàn ông cúi gập người khi anh đi qua và những người đàn bà vừa hạ mặt xuống đất vừa mỉm cười chào anh . Anh biết là mình đã đến gần nơi cư ngụ của Nguyên Mộc khi thấy một cái chuồng chim to quá có chứa một số lượng chim nhiều không thể tin được, đủ các loại: một cảnh tượng . Nguyên Mộc có lần kể cho anh nghe là chim ông mua đến từ khắp nơi trên thế giới . Một vài con trong đám chim đó có giá trị cao hơn tất cả tơ lụa Lavilledieu sản xuất ra trong một năm . Hervé Joncour dừng chân để ngắm nghía sự chơi ngông tuyệt diệu này . Anh nhớ lại đã đọc trong một sách nào đó người phương đông thường không có tập tục tặng nữ trang để vinh danh sự chung thuỷ của các nàng tình nhân, mà tặng chim, những con chim quý hiếm, và tuyệt đẹp.

Ngôi nhà của Nguyên Mộc dường như đắm chìm trong một cái hồ tĩnh lặng . Hervé Joncour tiến lại gần và dừng lại chừng vài thước cách lối ra vào, không có cửa và trên những tấm vách bằng giấy hiện lên rồi biến mất nhưng bóng người không gây ra một tiếng động, một âm thanh nào . Cuộc sống đâu phải như thế: nếu có một cái tên cho tất cả cảnh này, đó là: sân khấu . Hervé Joncour cứ đứng đó chờ, không biết chờ gì . Đứng im lặng, cách ngôi nhà chừng vài thước . Trong suốt quãng thời gian anh đứng đó để mặc cho số phận định đoạt, nhưng cái bóng và sự lặng lẽ là tất cả những gì chắt lọc được từ cảnh tượng đặc biệt này . Thế thì anh đành quay lưng và bước đi, những bước chân vội vã, hướng về nhà . Đầu cúi xuống, anh nhìn bước chân mình để giúp anh khỏi phải nghĩ ngợi gì nữa.

23.Tối đó, Hervé Joncour sửa soạn hành trang . Rồi anh được dẫn tới căn phòng lớn có sàn lát đá sẵn sàng theo nghi thức tắm rửa như mấy ngày qua . Anh nằm xuống, khép mắt lại, và nghĩ đến cái chuồng chim to ngoài kho, bằng chứng ngông cuồng của tình yêu . Có ai đặt lên mặt anh cái khăn ướt . Hơi lạ, vì những lần tắm trước có ai làm vậy đâu . Theo bản năng, anh muốn gỡ nó ra, nhưng một bàn tay nắm lấy bàn tay anh, giữ chặt, giữ yên . Đây không phải bàn tay già nua của một người đàn bà già nua.

Hervé Joncour cảm thấy nước chảy trên thân thể mình, trên hai chân đầu tiên, rồi dọc theo hai cánh tay, rồi trên ngực . Nước như dầu . Và một sự im lặng lạ thường bao quanh . Anh cảm thấy một tấm khăn phủ bằng lụa, ôi nhẹ biết bao, đặt lên người mình . Và hai bàn tay của một người đàn bà – của một người đàn bà – lau thân anh, vuốt ve da thịt anh, cùng khắp: hai bàn tay và mảnh lụa nhẹ như không . Anh nằm im không nhúc nhích chút nào, ngay cả khi anh cảm thấy hai bàn tay lần từ vai lên cổ, và những ngón tay – lụa, ngón tay = tiến dần lên tay mời anh, vuốt nhẹ qua đôi môi anh, một lần, rất chậm, rồi thôi, rồi biến mất.

Hervé Joncour còn cảm thấy được tấm khăn lụa kéo lên cao và rời khỏi anh . Cảm giác cuối cùng là một bàn tay mở bàn tay anh ra và đặt vào lòng bàn tay cái gì đó.

Anh chờ đợi rất lâu, bất động, trong im lặng . Rồi, chậm rãi, anh gỡ tấm khăn ướt ra khỏi mặt . Chẳng còn chút sáng nào trong phòng . Chẳng còn ai xung quanh anh . Anh đứng lên, cúi nhặt tấm áo choàng xếp gọn nằm dưới đất, vắt lên vai, ra khỏi phòng, đi xuyên qua căn nhà, đến trước tấm chiếu của mình, ngả người xuống . Anh bắt đầu quan sát ngọn lửa run rẩy bé xiú bên trong cái đèn lồng . Và, một cách chuyên chú, anh bắt Thời Gian dừng lại, đứng lại trong suốt quãng thời gian anh mong muốn.

Sau đó, anh mở bàn tay ra, đâu khó gì, và thấy miếng giấy . Vài chữ Nhật viết thảo chữ này nằm dưới chữ kia . Mực đen.

24.Ngày hôm sau, sớm, buổi sáng, Hervé Joncour lên đường . Anh mang theo anh, giấu trong hành lý, hàng ngàn trứng tằm, nói cách khác, anh mang tương lai của thị trấn Lavilledieu, công ăn việc làm cho hằng trăm người và sự giàu có cho chục người khác . Khi con lộ quẹo về phía trái và ngôi làng bị che khuất mãi mãi sau lưng đồi, anh ngừng lại, chẳng bận tâm đến hai người đàn ông tháp tùng anh . Anh xuống ngựa và dừng một lúc ở ven đường, đưa mắt nhìn đăm đăm những ngôi nhà nằm rải rác lưng chừng đồi.

Sáu ngày sau, ở Cao – cương, Hervé Joncour lên chiếc tàu của bọn buôn lậu Hà Lan đưa anh trở lại Sabirk . Từ đó, anh đi ngược lên, dọc theo biên giới Tàu cho tới hồ Baikal, băng qua bốn ngàn cây số trên đất Sibérie, vượt rặng núi Oural, đến lại thành Kiev, và xuyên qua châu Âu bằng tàu lửa, từ đông sang tây, như thể sau một cuộc hành trình về nước dài ba tháng trời, anh đến Pháp . Ngày chủ nhật đầu tiên của tháng tư – vừa kịp giờ dự lễ ca – anh về đến cửa ngõ vào thị trấn Lavilledieu . Anh thấy người vợ Hélène chạy ra đón anh, và ngửi được mùi thơm da thịt khi ôm sát nàng trong vòng tay, và cảm được cái mượt mà như nhung trong giọng nói khi nàng lên tiếng.

– Anh đã về.

Âu yếm, dịu ngọt.

– Anh đã về.

25.Cuộc sống ở thị trấn Lavilledieu trôi đều, giản dị, bình thường, điều chỉnh bằng trật tự và phương pháp . Hervé Joncour để cuộc sống đi lướt qua mình trong bốn mươi mốt ngày . Ngày thứ bốn hai, anh đầu hàng, mở ngăn kéo trong chiếc rương hành lý, rút ra một tấm bản đồ Nhật Bản, mở ra, và cầm lên mảnh giấy nhỏ anh đã giấu trong đó từ mấy tháng nay . Vài chữ Nhật viết thảo chữ này nằm dưới chữ kia . Mực đen . Anh ngồi vào bàn, và nhìn mảnh giấy ấy, rất lâu.

Anh tìm được Baldabiou ở quán Verdun, đang đánh bi da . Ông bao giờ cũng chơi một mình, chống lại chính mình . Những ván bi da kỳ quặc . Tên lành lặn chống tên cụt tay, ông gọi thế . Ông đánh một cú bình thường, và cú tiếp theo, chỉ dùng một tay . Ngày nào tên cụt tay thắng – Ông tuyên bố – ngày đó ông sẽ bỏ thị trấn này ra đi . Từ bao nhiêu năm nay, tên cụt tay thua hoài.

– Ông Baldabiou, tôi phải tìm cho ra người nào, ở đây, biết đọc tiếng Nhật.

Tên cụt tay phóng ra một cú “hai băng” với “ếp phê lùi”.

– Thì hỏi Hervé Joncour, hắn cái gì cũng biết hết.

– Tôi à ? Tôi chẳng hiểu mô tê gì cái thứ tiếng đó.

– Nhưng ở đây, cậu là một người Nhật.

– Có lẽ thế, nhưng tôi chẳng biết gì cái tiếng đó cả.

Tên lành lặn khom người trên bàn biđa và thọc một cú “ngọn đèn trần” tính sáu điểm.

– Như vậy thì chỉ còn Bà Bạch nương . Bả có một tiệm bán vải ở thành phố Nimes.

Trên lầu tiệm bán vải là nhà thờ . Bả cũng làm chủ luôn . Giàu . Người Nhật.

– Người Nhật à ? Và làm sao bà ta sang tận đây được ?

– Đừng hỏi bả gì cả, nếu cậu muốn nhờ bà chuyện gì . Chó đẻ!

Tên cụt tay vừa mới đánh hông một cú “ba băng”, mất tới mười bốn điểm.

26.Hervé Joncour nói với người vợ Hélène anh phải đi Nimes, vì công việc làm ăn . Và anh sẽ quay về nhà cùng ngày.

Anh leo lên tầng thứ nhất ở trên tiệm vải, số 12 đường Moscat, và tỏ ý muốn gặp Bạch nương . Họ bắt anh đợi rất lâu . Phòng khách được bày biện như thể cho một cuộc truy hoan bắt đầu từ nhiều năm trước và không bao giờ chấm dứt . Các chị em ta đều trẻ và đều là người Pháp . Một tên nhạc công dương cầm đang chơi, một cách nhỏ nhẹ, nhưng điệu nhạc mang hương vị Nga . Mỗi khi chấm dứt một bài nhạc, anh ta đưa bàn tay mặt lên vuốt tóc và nói thầm thì.

– Thế đấy.

  1. Hervé Joncour ngồi chờ gần hai tiếng đồng hồ . Rồi anh được dẫn đi dọc theo một hành lang cho tới cánh cửa cuối cùng . Anh mở và bước vào.

Bạch nương đang ngồi trong một chiếc ghế bành lớn, không xa cửa sổ . Nàng mặc một áo kimono bằng vải mỏng, nhẹ: toàn một màu trắng . Nàng đeo ở những ngón tay, như thể đeo nhẫn, những nụ hoa nhỏ màu xanh nước biển rất đậm . Tóc đen nhánh, nét mặt phương đông, tuyệt đẹp.

– Cái gì khiến ông nghĩ rằng ông đủ giàu để ngủ với tôi ?

Hervé Joncour vẫn đứng, trước mặt nàng, mũ còn trên tay.

– Tôi muốn nhờ bà một việc . Bất kể giá cả.

Rồi anh móc từ túi trong của áo vét mảnh giấy nhỏ, được gấp làm tư, đưa ra trước mặt nàng:

– Tôi phải biết cái gì viết trong đó.

Bạch nương không để một bắp thịt nào trên mặt động đậy . Vẫn giữ đôi môi hé nở, tưởng như thời tiền sử của một nụ cười.

– Thưa bà, tôi xin nhờ bà.

Nàng chẳng có lý do gì trên đời để làm chuyện này . Vậy mà nàng cầm lấy tờ giấy, mở ra, nhìn vào . Nàng nhướng mắt nhìn Hervé Joncour rồi hạ ánh mắt xuống . Nàng gấp miếng giấy lại, chậm rãi . Khi nàng nghiêng người về phía trước, để trả lại tờ giấy cho anh, chiếc áo kimônô mở hé ra trước ngực nàng . Hervé Joncour thấy rõ nàng chẳng mặc gì bên trong, da thịt nàng tươi và trắng ngần.

– Trở lại, không tôi chết mất.

Hervé Joncour bỏ mảnh giấy vào lại túi trong áo vét.

– Cám ơn bà.

Anh gật đầu chào, quay người, bước về phía cửa và sắp sửa đặt vài tờ giấy bạc lên bàn.

– Bỏ qua đi.

Hervé Joncour lưỡng lự một lát.

– Tôi không nói chuyện tiền bạc. Tôi nói chuyện người đàn bà đó. Bỏ qua đi . Cô ta sẽ không chết đâu và ông cũng biết vậy.

Không quay người lại, Hervé Joncour đặt những tờ giấy bạc xuống bàn, mở cửa và ra về.

28.Baldabiou kể rằng đôi khi có những người đàn ông đến từ Paris để làm tình với Bạch nương . Về lại kinh đô, họ đeo trên ve áo đuôi tôm một vài nụ hoa xanh nhỏ xíu, giống như những nụ hoa nàng lúc nào cũng đeo trên những ngón tay như đeo từng ấy chiếc nhẫn.

29.Mùa hè năm đó, lần đầu tiên trong đời Hervé Joncour đưa vợ đến vùng biển nghỉ mát Riviera . Họ ngụ hai tuần lễ trong một khách sạn ở thành phố Nice mà phần lớn khách là người Anh; khách sạn cũng có tiếng nhờ những đêm hòa nhạc dành riêng cho khách mình . Hélène tin rằng trong một khung cảnh, một nơi chốn đẹp đẽ như thế này, vợ chồng nàng sẽ thụ thai được một đứa con mà hai người hoài công chờ đợi từ bao năm nay . Cả hai đồng tình nghĩ rằng đứa con đó sẽ là con trai . Và nó sẽ mang tên Philippe . Họ tham dự một cách kín đáo vào sinh hoạt vui chơi nơi thành phố biển, rồi sau đó trong những phòng riêng, vui đùa với nhau bằng cách cười cợt những nhân vật kỳ quặc mà họ gặp . Một buổi tối, nơi hòa nhạc, họ làm quen một người Ba Lan làm nghề buôn bán áo choàng da lông: ông ta nói ông có đi Nhật.

Đêm trước ngày họ ra về, Hervé Joncour tự nhiên tỉnh giấc dù trời còn tối, ngồi dậy, rồi lại gần giường Hélène . Ngay chính lúc nàng mở mắt, anh nghe giọng nói của chính mình thì thầm dịu dàng:

– Anh sẽ yêu em mãi mãi.

  1. Vào đầu tháng chín, những nhà chăn tằm ở Lavilledieu họp nhau lại để quyết định những gì phải làm . Chính phủ đã gởi xuống Nimes một nhà sinh học trẻ để nghiên cứu chứng bệnh đã làm cho trứng tằm nuôi ở Pháp trở nên vô dụng . Anh tên là Louis Pasteur: anh làm việc với những ống kính hiển vi đủ sức nhìn ra những cái vô hình: người ta kể anh đã tìm được những kết quả lạ lùng . Từ Nhật, những tin tức đến tại đấy loan rằng nội chiến sắp xảy ra đến nơi, xúi giục bởi những lực lượng chống đối sự mở cửa cho người ngoại quốc vào nước . Tòa lãnh sự Pháp, mới mở ở Hoành Tân, gửi về những bức điện khuyên can hiện nay hãy khoan thiết lập những quan hệ thương mãi với đảo quốc, nên chờ một thời điểm khác thuận lợi hơn . Là những người quen thận trọng, ưa dặn dò và nhạy cảm với những chi phí lớn lao phải chi ra cho mỗi chuyến đi bí mật vào Nhật, nhiều chức sắc ở Lavilledieu nói rằng tốt hơn nên dẹp sang một bên các chuyến viễn hành của Hervé Joncour, và chờ năm nay, nên mua trứng tằm qua trung gian những nhà nhập cảng lớn ở vùng Trung Đông: sự cung cấp trứng từ họ ít hay nhiều được bảo đảm, đáng tin . Baldabiou nghe họ nói, nghe tất cả, nhưng không mở miệng . Vào lúc cuối, khi đến lượt mình lên tiếng, ông chỉ đặt cây gậy bằng gỗ sòng lên bàn và giương mắt nhìn về phía người đang ngồi trước mặt ông . Và chờ.

Hervé Joncour biết rõ những nghiên cứu của Pasteur, và anh cũng đọc những tin tức đến từ Nhật nhưng anh luôn luôn từ chối lên tiếng bình luận về những gì mình biết. Anh thích dùng thời gian xem đi, xét lại dự án cái công viên anh muốn xây chung quanh nhà. Trong một góc kín nơi bàn làm việc, anh giữ mảnh giấy nhỏ xíu gấp làm tư, với vài chữ Nhật viết thảo chữ này nằm dưới chữ kia, mực đen. Anh có một số tiền dự trù khá lớn ở ngân hàng, sống cuộc đời yên lặng và vuốt ve cái ảo tưởng không hoàn toàn vô lý là anh sẽ thành cha một ngày gần đây. Khi Baldabiou đưa mắt nhìn anh, anh nói.

– Chính ông phải quyết định, ông Baldabiou.

31.Hervé Joncour lên đường đi Nhật vào những ngày đầu tháng mười. Anh qua biên giới Pháp gần thành Metz, đi xuyên vùng Wurtemberg và vùng Bavière, vào nước Áo, lên thành Vienne rồi thành Budapest bằng tàu lửa rồi tiếp tục đi đến thành Kiev . Anh cưỡi ngựa băng qua hai ngàn cây số vùng thảo nguyên Nga, vượt rặng núí Oural, tiến vào vùng Sibérie, mất hết bốn chục ngày nữa mới đến được hồ Baikal mà người dân địa phương gọi là: người cuối cùng. Anh xuôi dòng sông Amour, đi dọc theo biên giới Tàu cho đến bờ Đại Dương, và khi tới đó anh nằm dài mười ngày ở hải cảng Sabirk chờ đợi một con tàu của bọn buôn lậu Hà Lan đưa anh tới Capo Teraya ở bờ biển phía tây nước Nhật. Điều anh nhận thấy được ở đây là cả nước rơi vào sự chờ đợi hỗn độn và kéo dài một cuộc chiến chưa chịu bùng nổ. Anh đi suốt mấy ngày đường không cần phải thận trọng như những lần trước, bản đồ các quyền lực cũng như các hệ thống kiểm soát đường sá hình như tan biến xung quanh anh khi mà cuộc chiến sắp xảy ra đến nơi sẽ vẽ lại hoàn toàn các bản đồ trên. Ở Bạch Xuyên, anh gặp người sẽ dẫn anh đến chỗ Nguyên Mộc. Họ đi ngựa suốt hai ngày thì thấy ngôi làng . Hervé Joncour xuống ngựa đi bộ vào làng để cho cái tin anh đến đây vào trong làng trước anh.

  1. Anh được đua đến một trong những căn nhà cuối cùng trong làng, nằm trên cao, cạnh bìa rừng. Năm người đầy tớ cho anh. Anh giao hành lý cho họ và đi ra ngoài hiên nhà. Cuối làng nhưng ở phía bên kia, đối diện nơi anh đang đứng, anh nhận ra dinh thự của Nguyên Mộc, cao hơn các nhà khác không bao nhiêu nhưng được bao bọc xung quanh bằng những cây thông bá hương to cao, ngạo nghễ, che cho sự cô đơn quạnh quẽ của ngôi nhà. Hervé Joncour tiếp tục nhìn mãi cái dinh thự đó, làm như chẳng có gì khác từ đây đến tận chân trời. Như vậy mà anh thấy, cuối cùng, thình lình, bầu trời phía trên dinh thự đen nghịt hàng ngàn con chim bay loạn xạ như thể chúng bùng nổ tan tác từ mặt đất, những con chim đủ loài, choáng váng, phát cuồng bay trốn bốn phương tám hướng, hót líu lo và kêu oang oác, pháo bông nổ bùng tung tóe những cánh chim, mây đầy màu dội lên ánh sáng và trời đầy tiếng hoảng hốt, âm nhạc trốn chạy, bầu trời đó, bay lên.

Hervé Joncour mỉm cười.

33.Cả làng bắt đầu xáo xác như tổ kiến phát khùng: mọi người chạy lên chạy xuống, ngược xuôi, la hét lung tung, ngóng mắt lên trời như theo dõi những con chim vừa sổ lồng, những con chim trong bao nhiêu năm là niềm hãnh diện của chủ nhân chúng, bây giờ là sự xúc phạm mang trên những đôi cánh bay loạn xạ trên trời.

Hervé Joncour rời nhà và đi xuống xuyên qua làng lần nữa, chân bước chậm, mắt nhìn về phía trước và anh có vẻ không thấy gì quanh mình. Anh là sợi chỉ bằng vàng chạy thẳng trong sợi khổ của một tấm thảm do một tên điên ngồi dệt. Anh qua cầu trên sông, đi xuống tận những cây thông bá hương to cao, bước vào dưới bóng chúng rồi ra khỏi ở chỗ khác. Trước mặt anh, anh thấy cái chuồng chim to kếch sù hoàn toàn trống trơn, những cửa chuồng mở toang hoác . Và trước chuồng chim, một người đàn bà. Hervé Joncour không nhìn quanh nhưng cứ tiếp tục bước đi, chậm rãi, chỉ ngừng khi anh đến ngay trước mặt nàng.

Đôi mắt nàng không có dáng phương đông, và khuôn mặt nàng là khuôn mặt của một cô gái trẻ.

Hervé Joncour bước thêm một bước về phía nàng, đưa cánh tay ra trước và mở bàn taỵ Trong lòng bàn tay, mảnh giấy nhỏ gấp làm tự Nàng thấy và nở ra một nụ cười tỏa sáng cả khuôn mặt . Nàng đặt bàn tay mình lên bàn tay của Hervé Joncour, dịu dàng nắm lại, giữ như thế một lát, rồi rút tay về, nhưng ngón tay kẹp theo mảnh giấy nhỏ, cái mảnh giấy đã đi vòng quanh thế giới đó. Nàng vừa mới giấu nó vào trong nếp áo thì đã nghe tiếng của Nguyên Mộc.

– Hoan nghênh ông đã đến, người bạn Pháp.

Ông đứng cách họ vài bước . Áo kimônô màu sậm, tóc đen cột túm sau gáy một cách hoàn hảo. Ông bước lại gần. Xem xét chuồng chim, nhìn kỹ từng cánh cửa một bị mở toang hoang.

– Chúng sẽ quay về đây. Đâu dễ gì cưỡng lại sự cám dỗ lôi kéo ta quay về, phải thế không ?

Hervé Joncour không trả lời. Nguyên Mộc nhìn thẳng vào mắt anh và nói dịu dàng:

– Đi với tôi.

Hervé Joncour theo ông. Anh đi được vài bước thì quay về phía cô gái và cúi người chào.

– Tôi hy vọng sớm gặp lại cô.

Nguyên Mộc vẫn bước tiếp.

– Cô ta không biết tiếng nước anh đâu.

Ông nói.

– Đi.

34.Tối hôm đó Nguyên Mộc mời Hervé Joncour đến nhà ông. Dự tiệc có vài người đàn ông trong làng, và những người đàn bà ăn vận rất sang trọng, trang nhã, mặt đánh phấn trắng và tô những màu rực rỡ. Người ta uống rượu sakê, người ta hút bằng những ống gỗ dài một loại thuốc lá có vị chát và gây choáng váng. Những tên làm trò đến, và một tên trong bọn làm mọi người cười nghiêng ngả bằng cách bắt chước người và thú vật. Ba người đàn bà già chơi những nhạc cụ bằng dây, lúc nào cũng cười. Nguyên Mộc ngồi chỗ danh dự, áo quần đen, đi chân không. Ngồi bên cạnh ông là người đàn bà có khuôn mặt cô gái trẻ trong một cái áo dài bằng lụa thật lộng lẫy. Hervé Joncour lại ở tận cuối phòng, xa nhưng đối diện nàng: anh thấy ngột ngạt vì mùi nước hoa ngai ngái của những người đàn bà xung quanh và anh cười ngượng nghịu, lúng túng, với những người đàn ông vui thích kể cho anh nghe đủ thứ chuyện mà anh chẳng hiểu gì hết. Cả ngàn lần anh tìm ánh mắt nàng, và cả ngàn lần nàng bắt được ánh mắt anh. Như một bản khiêu vũ buồn, thầm kín và không bao giờ thoa? mãn. Hervé Joncour khiêu vũ như thế cho đến khi đêm đã khuya, thật khuya, rồi anh đứng dậy, nói vài điều gì đó bằng tiếng Pháp để xin lỗi, gỡ tay một người đàn bà muốn cùng anh về nhà, và anh mở đường đi giữa đám khói thuốc lá mù mịt và những người đàn ông vỗ vai, chào hỏi anh bằng ngôn ngữ không thể hiểu của họ, anh đi tới cửa. Trước khi ra khỏi căn phòng, anh nhìn về phía nàng một lần nữa . Nàng đang nhìn theo anh, từ đôi mắt hoàn toàn câm nín, nhìn anh từ bao thế kỷ này.

Hervé Joncour đi lang thang trong làng, hít thở không khí mát mẻ ban đêm, bị lạc trong những con lộ nhỏ dẫn lên sườn đồi. Khi về đến nhà, anh thấy một cái đèn lồng thắp sáng lung lay sau tấm ván bằng giấy. Anh vào nhà và bắt gặp hai người đàn bà, đứng trước mặt mình. Một người phương đông, trẻ, mặc một chiếc áo kimônô trắng, giản dị. Và nàng. Mắt nàng sáng lên, cuống quít một niềm vui. Không để cho anh kịp nói hay làm gì, nàng đến gần, cầm bàn tay anh, đưa lên mặt, vuốt nhẹ lên đôi môi nàng, rồi nắm thật chặt, nàng để nó lên đôi bàn tay của cô gái đứng cạnh nàng, giữ như vậy một vài giây ngắn ngủi để bàn tay anh không thể thoát ra. Sau cùng nàng rút tay mình về, bước lui hai bước, cầm cái đèn lồng, nhìn vào đôi mắt của Hervé Joncour một khoảnh khắc rồi đi như chạy. Cái đèn lồng màu cam. Nàng biến mất trong đêm đen, cái ánh sáng nhỏ nhoi sao nỡ trốn đi.

35.Hervé Joncour chưa từng thấy cô gái này bao giờ, và thực tình anh cũng không thấy nàng, đêm hôm ấy. Trong căn phòng không có ánh sáng, anh cảm thấy cái đẹp của thân thể nàng, và anh biết nhận ra bàn tay và môi miệng nàng. Anh làm tình với nàng hàng giờ, làm những cử chỉ anh chưa bao giờ làm trước đó, và để cho nàng dạy anh sự chậm rãi, khoan thai mà tới bây giờ anh không biết. Trong bóng tối, thực không hề gì làm tình với nàng, và không làm tình với nàng . Trước rạng đông một lát, cô gái đứng lên, mặc lại chiếc áo kimônô trắng, và ra đi.

36.Một buổi sáng, Hervé Joncour trông thấy một người phụ tá cho Nguyên Mộc chờ mình trước nhà. Ông ta mang đến mười lăm phiến vỏ cây dâu phủ đầy trứng tắm: nhỏ xíu, màu ngà. Hervé Joncour xem xét từng phiến một, kỹ lưỡng, rồi thương lượng giá cả và trả bằng những thỏi vàng. Trước khi ra về, anh làm cho ông ta hiểu là anh muốn gặp Nguyên Mộc. Ông ta lắc đầu quầy quậy. Hervé Joncour hiểu ra, qua điệu bộ Ông, là Nguyên Mộc đã ra đi ngay sáng nay, sớm, với đoàn tùy tùng, và chẳng ai biết khi nào ông ấy về lại đây.

Hervé Joncour chạy băng qua đường làng đến tại nhà của Nguyên Mộc. Anh chỉ gặp được những người đầy tớ chỉ biết lắc đầu trước mỗi câu hỏi của anh. Ngôi nhà có vẻ trống vắng. Và mặc dầu cố tìm kiếm, lục lọi xung quanh, ngay trong những đồ vật nhỏ nhặt, vô nghĩa nhất, anh chẳng thấy có gì giống như một lời nhắn gửi để lại cho anh. Anh rời ngôi nhà, và trên đường về làng, đi ngang trước cái chuồng chim to lớn ngoài khọ Những cánh cửa đã được khép kín lần nữa . Bên trong, hàng trăm con chim bay qua bay lại, như núp tránh trời cao.

37.Hervé Joncour còn chờ thêm hai ngày nữa một dấu hiệu nào đó . Rồi anh lên đường.

Độ chừng hơn nửa giờ đi đường sau khi rời làng, anh bỗng dưng nghe một âm thanh lạ thường và trông như tiếng bạc phát ra từ một cánh rừng . Giấu mình giữa những tàng lá là hàng ngàn đốm sậm của một đàn chim dừng bay ở đây để nghỉ ngơi . Chẳng nói chẳng rằng với hai người tháp tùng, Hervé Joncour dừng ngựa, rút khẩu súng lục ra khỏi bao và bắn sáu phát lên cao . Đàn chim hoảng hốt đập cánh bay vút lên trời, trông như cột khói bốc lên từ một đám cháy . Đàn chim bay cao, rất cao, đến nổi ta còn thấy chúng cách đây mấy ngày đường . Chim bay làm bầu trời tối sầm, đâu có mục đích nào khác hơn là lạc một lối về.

  1. Sáu ngày sau, ở Cao Cương, Hervé Joncour lên chiếc tàu của bọn buôn lậu Hà Lan đưa anh trở lại Sabirk. Từ đó anh đi ngược lên, dọc theo biên giới Tàu cho tới hồ Baikal, băng qua bốn ngàn cây số vùng đất Sibérie, vượt rặng núi Oural, đến được lại thành Kiev rồi lên tàu lửa đi suốt châu Âu, từ đông sang tây, như thể sau một cuộc hành trình về nước dài ba tháng trời, anh đến Pháp. Ngày chủ nhật đầu tiên của tháng tư – vừa kịp giờ dự lễ cả – anh về đến cửa ngõ vào thị trấn Lavilledieụ Anh cho ngừng xe, và ngồi bất động trong nhiều phút đằng sau tấm màn cửa kéo kín. Rồi anh xuống xe và tiếp tục đi bộ, bước chân này sau bước chân kia, với một sự mệt mỏi vô hạn.

Baldabiou hỏi anh có chứng kiến chiến tranh nào không.

– Không phải cuộc chiến tôi chờ đợi, anh trả lời.

Đêm đó anh vào giường Hélène và làm tình với nàng một cách nóng nảy, vội vã đến độ khiến nàng phát sợ và phát khóc. Khi nàng thấy anh chợt nhận ra phản ứng của mình, nàng tự ép mình nở một nụ cười cho anh.

– Chỉ vì em sung sướng quá thôi, dịu dàng nàng nói với anh.

39.Hervé Joncour giao trứng cho những nhà chăn tằm ở Lavilledieụ Rồi suốt mấy ngày anh không chường mặt ra ngoài, lơ là luôn thói quen hàng ngày đến quán Verdun. Vào những ngày đầu tháng năm và trước sự sững sờ của mọi người, anh mua lại ngôi nhà hoang của ông Jean Berbek, cái ông mà một ngày kia không muốn nói với người đời một lời nào nữa và cứ ngậm miệng cho đến khi từ giã cõi người. Mọi người nghĩ rằng anh có ý biến cái nhà thành một xưởng mới. Anh chẳng bận tâm phá bỏ nó đi. Đôi khi anh tới đó, một mình đi tới, đi lui trong các căn phòng, để làm gì, chẳng ai biết. Một bữa kia, anh đưa Baldabiou đến đó.

– Chắc ông, ông biết tại sao Jean Berbek tự nhiên ngậm miệng không nói nữa ? Anh hỏi Baldabiou.

– Đó là một trong nhiều điều ông ta không bao giờ mở miệng nói ra.

Bao nhiêu năm đã trôi qua mà những bức trầm vẫn còn treo trên tường và nồi niêu vẫn còn nằm ở giá ráo nước, bên cạnh bồn rửa chén bát. Chẳng vui gì khi nhìn mấy cảnh này, và Baldabiou, về phần ông, muốn ra khỏi đây cho rồi. Nhưng Hervé Joncour tiếp tục chăm chú nhìn, mê man, những bức tường mốc meo và không còn sức sống. Rõ ràng rồi: anh ta tìm kiếm cái gì đó, ở đây.

– Có lẽ đôi khi cuộc đời xoay chuyển một cách kỳ cục, lạ lùng khiến ta chẳng còn gì để nói thêm vào.

Anh nói.

– Chẳng còn gì. Chẳng bao giờ nữa.

Baldabiou không phải là người đủ sức, đủ vóc trong những cuộc nói chuyện đứng đắn. Ông nhìn cái giường của Jean Berbek.

– Có lẽ bất cứ ai cũng thành câm mẹ nó chứ còn gì nữa ở trong cái nhà gớm ghiếc này.

Hervé Joncour vẫn tiếp tục cuộc sống khép kín trong nhiều ngày, ít khi chường mặt ra ngoài, và dành hết thời gian cho dự án cái công viên mà anh sẽ xây lên, một ngày kia. Anh bôi đen bao nhiêu tờ giấy với những hình vẻ kỳ quặc, trông như những cổ máy. Một buổi tối, Hélène hỏi anh.

– Cái gì thế ?

– Chuồng chim.

– Chuồng chim à ?

– Phải.

– Để làm gì ?

Hervé Joncour vẫn chăm chú nhìn các hình vẽ.

– Em đem chim về bỏ đầy chuồng, nhiều chim chừng nào tùy sức em, và một ngày nào đó có chuyện xảy ra làm em sung sướng, hạnh phúc, em mở rộng cửa chuồng và em nhìn chúng bay ra, bay lên trời cao.

40.Vào cuối tháng bảy, Hervé Joncour đi cùng người vợ xuống thành phố Nicẹ Họ ngụ trong một biệt thự nhỏ nằm bên bờ biển. Chính Hélène chọn nó, nàng tin rằng sự tĩnh lặng của ngôi nhà nằm cô lập sẽ làm dịu bớt tính khí u sầu có vẻ choáng hết con người chồng nàng. Tuy nhiên, nàng rất khôn khéo khi làm như sự chọn lựa này là do tính thất thường, đồng bóng của riêng mình, và như thể làm cho người đàn ông nàng yêu cảm thấy thoa? mãn khi tha thứ cho nàng.

Họ sống chung ba tuần lễ trong niềm hạnh phúc ít ỏi và nguyên vẹn. Trong những ngày trời không nóng quá, họ thuê một cỗ xe ngựa và đi khám phá trong niềm vui thú những làng mạc giấu mình rải rác sau những ngọn đồi, từ đó nhìn xuống, biển trông giống như cảnh bài trí trên những tấm giấy hoa dán tường. Đôi khi họ xuống phố dự một đêm hòa nhạc hay dạ hội. Một buổi tối họ nhận lời mời của một nam tước người Ý dự dạ tiệc sang trọng mừng sinh nhật sáu mươi tuổi của ông ở khách sạn Thụy Sĩ. Tới lúc ăn tráng miệng, Hervé Joncour tình cờ đưa mắt về phía Hélènẹ Nàng ngồi phía bên kia bàn, bên cạnh một người đàn ông Anh hào hoa và có duyên, lạ lùng thay, ông ta mang trên ve áo dạ hội một cái nhẫn kết bằng những nụ hoa xanh nhỏ. Hervé Joncour thấy ông ta nghiêng người và thầm thì điều gì sát bên tai Hélènẹ Nàng bật cười, một cái cười tuyệt đẹp, và khi cười nàng nghiêng đầu về phía người Anh đến mức để tóc nàng vuốt nhẹ vai ông ta, một cử chỉ tự nhiên, không thấy có gì lúng túng nhưng rất chính xác làm anh ta bối rối. Hervé Joncour hạ ánh mắt xuống đĩa đồ ăn. Anh không thể không nhận ra bàn tay mình đang cầm chặt chiếc thìa nhỏ bằng bạc bắt đầu run rẩy thấy rõ.

Sau đó, ở phòng hút thuốc, Hervé Joncour, người lảo đảo vì hơi quá chén, đến gần một người đàn ông ngồi một mình ở bàn, mắt nhìn về phía trước với vẻ mặt hơi ngơ ngác. Anh chồm người về phía ông, nói chậm chạp.

– Thưa ông, tôi phải loan báo cho ông một điều hệ trọng. Chúng ta cả thảy đều đang ghê tởm. Chúng ta cả thảy đều tuyệt diệu và chúng ta cả thảy đều đang ghê tởm.

Ông đến từ Dressde buôn bán bê bò và chẳng hiểu được tiếng Pháp bao nhiêu. Ông ta bật lên một tràng cười ầm ỉ, vừa lúc lắc cái đầu nhiều lần tỏ vẻ đồng tình, không biết khi nào ông mới dứt cơn cười bò như thế.

Hervé Joncour và người vợ còn ở vùng Riviera cho đến đầu tháng chín. Họ cảm thấy bùi ngùi khi phải rời cái biệt thự nhỏ vì giữa những bức tường này họ cảm nhận số phần yêu nhau của họ với tấm lòng thanh thản.

 

Phụ lục 4: THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

(Thơ)

                                             Bà Huyện Thanh Quan

 

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

 

 

Phụ lục 5: TRANH LÕA THỂ

         (Thơ)

Bích Khê

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
Ô tiên nương nàng lại ngự nơi này ?
Nàng ở mô ? xiêm áo để đâu đây ?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương ?
Mắt ngời châu tung ánh sáng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
Hai vú nàng ! Hai vú nàng ! chao ôi
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động
Tôi run run hãm lại cánh hồn si …
Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly
Ố hai chân nở màu sen ẻo lả
Cho tôi nàng ! cho tôi nàng ! tất cả …
Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao
Cho đê mê chới với hồn lên cao
Một tinh cầu sẽ tan ra biển lệ …
Tiên nương hỡi ? Nàng sống trong thế hệ
Bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng
Xuân muôn đời di dưỡng giữa vùng tang
Gương phép tắc suốt soi ngàn mộng ảnh !
Cớ làm sao nâng niu bầu giá lạnh
Ấp tranh người lơ đãng ngắm thi nhân ?
Hay nàng nhớ nhung các phương đều lặn
Hay nàng ước mơ tình trong trắng ngọc ?
Ôi ! nàng ôi ! làm sao nàng chẳng khóc
Người thi nhân vẻ đẹp của khiêu dâm
Trăng thanh tịnh còn lòng trong thơ cảm
Nhạc vô minh hằng sôi trên nét chữ ?
Ôi ! nàng ôi ! thốt lên lời ngọc nữ
Lời trân châu rang cả phím lòng tôi
Ngọc Kiều ! Ngọc Kiều ! Đến cặp song đôi
Cho tôi đọ vẽ hương trời sắc nước
Vẽ huyền diệu ứ men say lướt mướt
Vẽ yêu tinh dồn giận thấu vô gan
Ta thiếp đi – trong một phút mê loan
Xuống muôn đợt rồi bay lên tột bực …

 

Phụ lục 6: HÔN

(Thơ)

Phùng Quán

Trời đã sinh ra em

Để mà xinh mà đẹp

Trời đã sinh ra anh

Để yêu em tha thiết!

 

Khi người ta yêu nhau

Hôn nhau trong say đắm

Còn anh, anh yêu em

Anh phải đi ra trận!

 

Yêu nhau ai không muốn

Gần nhau và hôn nhau

Nhưng anh, anh không muốn

Hôn em trong tủi sầu!

 

Em ơi rất có thể

Anh chết giữa chiến trường

Đôi môi tươi đạn xé

Chưa bao giờ được hôn!

 

Nhưng dù chết em ơi

Yêu em anh không thể

Hôn em bằng đôi môi

Của một người nô lệ!

 

Phụ lục 7: NGƯỜI DỆT TẦM GAI

(Thơ)

                                       Vi Thùy Linh

Người yêu!

Chúng mình ở hai miền

Ngày nào em cũng khóc…

 

Anh yêu của em

Em yêu Anh cuồng điên

Yêu đến tan cả em

Ào tung ký ức

Tim em rộn lên

Em đếm từng ngày Anh đến

Ngày dài hơn mùa

Em mong mỏi

Em (có lúc) như một tội đồ nông nổi

…Em nghe thấy nhịp cách êm ái ân

Gió làn gió thổi sương thao thác

Đêm run theo tiếng nấc

Về đi Anh!

 

Cài then tiếng khóc của em bằng đôi môi Anh

Đưa em vào giấc ngủ nồng nàn, quên đi những đêm chập chờn, trĩu nặng

Ngày nối ngày bằng hy vọng

Em là người dệt tầm gai…

Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui

Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ

Truân chuyên đè lên thanh thản

Ôi sự trái ngược – những sợi tầm gai!

 

Không kỳ vọng những điều lớn lao

Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ những nỗi buồn – những sợi tầm gai – không ai nhìn thấy

Gai tầm gai đâm em đau đớn

Em chờ Anh mãi…

Tưởng chừng không thể vượt qua nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước

 

Những giọt tâm hồn thấm xót mười ngón tay rớm máu

Ngay cả khi Anh làm em thảng thốt

Em vẫn hướng về Anh bằng tình yêu trọn vẹn của mình

 

Dệt tầm gai đến bao giờ?

Mỗi ngày dài hơn một mùa

Dệt tầm gai đến bao giờ?

 

Về đi Anh!

Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!

Về đi Anh!

Cài then em

Bằng Anh!

 

Phụ lục 8: KÉP TƯ BỀN

(Truyện ngắn)

Nguyễn Công Hoan

 

Các ngài thích xem hát bội, hẳn chẳng ai là không biết tên Kép Tư Bền. Ấy anh ta chỉ nổi tiếng về cái tài bông lơn, lắm lúc ra sân khấu, chẳng cần nói một câu khôi hài nào, nhưng chỉ nhìn một cái điệu bộ cỏn con của anh ta, các khán quan cũng đủ phải ôm bụng mà cười, vỗ tay đôm đốp.

Anh ta ở Sài Gòn ra hát ở Hà Nội đã ba năm nay. Vì anh ta có tài riêng mà tính lại thích tự do, nên anh chẳng chịu làm chuyên cho một rạp nào. Nhưng hễ rạp nào khéo dùng anh một độ, là cũng đông khách. Cho nên, tối nào bà con Hà thành đọc chương trình hay xem báo, thấy kép Tư Bền đóng vai giễu là cũng nô nức đi xem. Lắm người đến chậm, phải mang tiền về không, phàn nàn rằng rạp chật quá!

Cho nên những tối hát có anh giúp, thì các hý viện đều trưng lên là buổi hát đặc biệt.

Nhưng đã hơn một tháng nay, anh không diễn ở đâu cả. Vì đã hơn một tháng nay, cha anh ta ốm. Đã hơn một tháng nay, lúc nào trong cái gác tối om ở gian nhà ngay đầu ngõ Sầm Công, cái tiếng rền rĩ của ông cụ cũng hòa lẫn với tiếng rầu rĩ của siêu thuốc mà làm anh Tư Bền phải rầu gan nát ruột, chẳng thiết đến sự làm ăn. Bệnh cha anh càng ngày càng nặng, thuốc thang chữa chạy, nào anh có quản ngại gì. Nhưng cái số tiền để dành của một vai kép dần dần cũng đi bài tẩu mã, đến nỗi anh phải đi vay trước của các ông chủ rạp hát ít nhiều.

Một hôm, ông chủ rạp Kịch trường đến nhà anh ta chơi. Sau một vài câu hỏi thăm chiếu lệ, ông ta nghiêm sắc mặt, nhắc đến món nợ:

– Sao? Cái số tiền đó, cậu đã có để trả tôi chưa?

– Thưa ngài, xin ngài hãy thư cho ít bữa, khi nào thư thả, tôi sẽ đi làm và nộp sau.

Ông chủ bĩu môi, nói:

– Thôi, biết bao lần rồi! Cậu không trả, tôi sẽ đem ra tòa đó.

Anh Tư Bền cười lạt cho xong chuyện, nhưng lại thấy ông chủ ngọt ngào dỗ:

Bấy lâu cậu nghỉ hát ở các rạp, khách nhắc nhở luôn đấy. Vậy cậu liệu liệu mà đi làm ăn chứ?

– Vâng, tôi định thế…

– Tôi mới nhờ một nhà văn sĩ đại danh soạn cho một vở hài kịch theo lối tuồng cổ. Vậy cậu ra giúp tôi vai chính. Vì phi cậu, không còn ai xứng đáng.

– Diễn vở mới thì phải học, thưa ngài?

– Phải, phải học và tập diễn trong độ nửa tháng.

– Trong nửa tháng! Chà!

Anh Tư Bền nhắc lại ba tiếng đó, nhưng trong anh lẩn vẩn nghĩ ngợi biết bao nhiêu điều: Trong nửa tháng, trong mười lăm hôm trời, mỗi ngày anh phải xa cách cha mấy tiếng đồng hồ để đi học diễn. Cha anh ốm. Trong khi anh vắng nhà, ai trông nom săn sóc thay anh? Nghĩ vậy anh đáp phắt:

– Thôi, xin lỗi ông, tôi bận quá mà!

Rồi anh trỏ vào màn và nói tiếp:

– Cha tôi yếu, tôi phải ở nhà.

Lúc ấy, ở trên giường bệnh, ông cụ ho sù sụ, rồi thò tay ra cái ghế đẩu kê cạnh, để với lấy cái ống nhổ. Nhưng lật bật cầm không vững, cụ đánh rơi ngay xuống sàn gác, đờm rãi nổi lềnh bềnh.

Anh Tư Bền giật mình, chạy lại đỡ cha:

– Sao ông không gọi con?

Rồi anh đỡ lấy chổi quét chỗ nước lênh láng đi, đoạn nét mặt rầu rầu, anh nói.

– Đó, ông coi, vắng tôi sao đặng.

– Không, cậu cứ nhận lời giúp tôi, tôi sẽ sai người đến trông nom hộ cậu.

– Đa tạ ông, nhưng tôi không yên tâm.

Lúc ấy, trong màn có tiếng keng keng của chiếc đũa đập vào bát sứ. Đó là hiệu gọi. Anh Tư Bền lật đật chạy lại gần cha. Giọng khàn khàn của ông cụ sai anh rót chén nước.

Nhân muốn gây cảm tình, ông chủ rạp Kịch trường lại gần giường, mở màn, rồi hỏi:

– Chào cụ, cụ có biết tôi là ai không.

Ông già giương hai mắt lên. Rồi như đã nhận biết, bèn nhăn bộ răng ra cười, cái cười khó đăm đăm, và gật gật mấy cái, rồi run lẩy bẩy, giơ tay ra bắt.

Các ngài đừng tưởng rằng ông cụ quen gọi lối tây, nên mới bắt tay đâu. Đến phải nhăn bộ răng ra cười còn là sự bất đắc dĩ nữa là. Nay sở dĩ ông cụ phải bắt tay, vì là tiếp khách theo lối lịch sự của những người mà con mình có nhờ vả.

– Cụ cũng không yếu lắm nhỉ. Sao cậu Tư Bền không nhận lời cho tôi?

Ông cụ hất hàm, có ý hỏi.

– Tôi sắp cho tập vở mới, định nhờ cậu ấy sắm vai chính.

Ông cụ lại nhăn răng ra cười và gật, nhưng anh Tư Bền nói ngay với cha.

– Ông mệt lắm, con phải ở nhà.

Ông cụ cau mặt. Chỉ có anh Tư Bền hiểu. Bởi vì ông cụ chẳng muốn vì mình mà con làm trái lòng người chủ nợ. Ông chủ dỗ dành, nói:

– Cậu cứ giúp tôi đi. Cậu mà nhận lời, thì món tiền ấy, cậu để đến bao giờ cũng được. Còn tiền hỏa hồng khi diễn tấn “Ông huyện ba phải” này, cậu cứ lấy cả để thuốc thang cho ông cụ.

Cái sức làm cho anh kép Tư Bền có thể nghĩ đến sự bỏ cha ốm một mình là ở câu nói ấy. Mà cha anh cũng vì câu nói ấy mà nở nang cả lồng xương ngực. Ông cụ cố thở mạnh mấy cái cho khoan khoái trong lòng.

– Cậu nghĩ sao?

– Nhưng nửa tháng trời! Ai trông nom cho cha tôi?

– à, thôi, thế này thì cậu bằng lòng nhé. Cậu cứ ở nhà mà học vở. Đến hôm diễn thử lần cuối, cậu hãy đến rạp cũng được. Vì tôi biết cậu thông minh và có tài hơn người khác. Tội chi, có dịp trổ tài, vả lại để cho thiên hạ nhớ mong lâu cũng không tiện!

Nghe câu nói sau cùng như được ăn miếng bánh thánh, anh Tư Bền có vẻ nghĩ ngợi. Anh nhìn cha. Ông cụ thấy con còn ngần ngừ, thì lộ ra vẻ không bằng lòng. Cụ nhăn mặt, cố cất lên cái tiếng khàn khàn để gắt:

– Nhận lời đi!

Nói xong, lại ho sù sụ.

Anh Tư Bền cảm động, nhìn ông chủ rạp Kịch trường và trả lời.

– Vâng!

Ông chủ vì chờ cái tiếng vâng này mất nhiều công quá, nên sợ nó không được chắc chắn. Đến hôm diễn, mà cha anh Tư Bền có làm sao, anh cứ vắng mặt ở rạp hát, thì lỡ bét. Ông bắt anh làm giấy giao kèo.

Bà con sính xem hát, hôm đó thấy ôtô quảng cáo chạy rong khắp phố để thả chương trình, và vải căng ở các ngã tư, đều nô nức rủ nhau đi xem buổi biểu diễn đặc biệt, có Tư Bền sắm vai chính.

Tối đến, cửa rạp Kịch trường đèn thắp sáng trưng như ban ngày, chiếu rõ cái cảnh người đứng lô nhô như luống hoa trăm hồng ngàn tía, bướm ong chờn vờn. Trên thềm, dưới bậc, giữa đường, non nghìn thiếu niên nam nữ túm tụm lại, tìm chỗ để đứng ngắm nhau cho đỡ nóng ruột lúc chờ đợi. Tiếng nhạc hòa trong rạp, du dương trầm bổng, chứa chan biết bao tình tứ ái ân, như câu, như kéo, làm cho người ta quên hẳn, mà bất giác moi túi lấy tiền mua vé.

Rồi cái làn sóng người dần dà tràn vào trong. Trên các hàng ghế, chỗ nọ nhắc lại câu bông lơn của kép Tư Bền, chỗ kia bắt chước điệu bộ của kép Tư Bền. Ai nấy đều nóng ruột sốt lòng, mong cho chóng đến giờ mở màn sân khấu, để được cười, được vỗ tay, được học thêm vào lối pha trò mới, để mai làm nhếch mép người yêu.

Một hồi chuông vừa dứt, màn kéo lên. Một tràng vỗ tay đôm đốp như pháo nổ để hoan nghênh ông chúa khôi hài. Anh Tư Bền lững thững bước ra, cúi đầu chào, rồi đứng thần người ra như phỗng một lúc. Tiếng reo, tiếng hò, tiếng vỗ tay lại làm dữ hơn trước! Mà khách quan thấy anh ăn mặc ngộ nghĩnh, cái mồm bôi nhọ nhem, thì ai nhịn cười được! Càng thấy anh đứng yên, họ càng được ngắm, và cho là anh muốn pha trò như thế, nên càng cười già! ác thật! Vai anh Tư Bền hôm ấy cứ phải đứng trên sâu khấu. Nhất là anh phải làm nhiều điệu bộ hơn mọi khi. Lắm lúc còn phải rặn ra mà cười ha hả!

Hết cảnh đầu. Sao mà lâu thế! Anh được nghỉ một chốc, mới nhờ người về xem tình hình cha anh ra làm sao. Rồi anh lại phải ra trò. Anh lại phải hò, phải hét phải dằn từng tiếng, phải ngân từng câu, phải làm những điệu bộ, phải cười ha hả như cảnh thứ nhất. Người xem hát thì cứ trông thấy anh là cũng đủ cười rồi. Nào họ có để ý và nhìn rõ đâu được cái vẻ lo âu của anh, nó hiện ra ở trước mắt. Bỗng khi anh đương phệnh phạo trên sân khấu, khi người ta đương vỗ tay đôm đốp, thì anh nghe thấy có người ở trong phòng nói ra:

– Nguy hơn ban nãy. Đã cấm khẩu rồi!

Cha anh cấm khẩu rồi! Đành vậy, nhưng chính là bây giờ mới nhiều cái vui trò. Khán giả dưới kia, hàng mấy nghìn con mắt, đương chăm chắm vào anh và im phăng phắc. Họ chỉ chờ anh há miệng là họ được lăn ra mà cười và vỗ tay mà thôi.

Cảnh thứ hai cũng lâu như cảnh đầu, mãi mới hết. Lúc anh đang ngồi thừ trong buồng trò, thì anh lại nhận được tin báo nữa, là hiện nay cha anh đã mê đặc, chân tay lạnh cả rồi.

Còn gì đau đớn hơn cái tin ấy nữa! Anh Tư Bền bỗng ứa hai hàng nước mắt, rồi khóc nức nở:

– Cha ơi!

Ông chủ thấy vậy, sợ quá. Anh mà bỏ dở vở kịch đương vui thì nguy. Ông cố khuyên giải, và cấm không ai được báo tin gì cho anh biết hết.

Sân khấu bài trí đã gần xong. Ông chủ bắt anh đánh lại tý phấn cho thêm xuân sắc, và sửa lại bộ áo mũ cho có vẻ ngộ nghĩnh hơn. Ông thấy anh vừa dắt lại dải áo, vừa sụt sịt mếu máo, thì bắt anh im đi, chùi nước mắt. Rồi ông đẩy anh ra sân khấu. Anh lại phải hò, hét, ngâm, cười, múa, nhảy, để mua gượng lấy những tràng vỗ tay. Cái cảnh thương tâm của anh Tư Bền, đi đôi với cái bông lơn, cứ diễn ra mãi, mỗi chốc lại càng thương tâm hơn lên. Mà càng thấy vắng bặt tin nhà, ruột anh càng nhàu như dưa, xót như muối.

Cái cảnh cuối cùng mà anh cho là lâu tới, thì khán giả cho anh là chóng quá. Cho nên khi sắp hạ màn, anh cúi chào, thì cả rạp vỗ tay đôm đốp thật dài, dài mãi. Anh tưởng phen này quyết hết nợ, quyết được về cạnh giường bệnh của cha để nhìn mặt cha một lượt sau cùng trước khi tắt nghỉ, thì ở hàng ghế hạng nhất, người ta kêu ầm:

– Bis! Bis!

Ông chủ rạp lại cho kéo màn lên. Anh Tư Bền lại phải giấu bộ mặt rầu rầu mà anh thích – vì nó hợp với tâm lý anh hơn, – để vui vẻ mà diễn lại đoạn cuối lượt nữa.

Rồi khi bài kèn chào nổi lên, hồi vỗ tay sau cùng như làm vỡ rạp. Cái màn từ từ buông xuống. Anh cúi đầu thong thả chào. Nhưng bao nhiêu người, chẳng để chậm thì giờ, đã tranh nhau chạy lên gần anh. Người thì tặng hoa, người thì bắt tay, người thì véo mũi, người thì khen. Làm cho anh ruột càng như thiêu đốt.

Khi không còn phải thở dài để hoan nghênh những cái hoan nghênh của công chúng, anh Tư Bền mới lật đật chạy vào buồng trò, cởi vội mũ áo và rửa quàng mặt mũi.

Lúc ấy, trong khi anh đang rối beng nghĩ đến cha anh, không biết bây giờ đã lạnh tới đâu, thì một người bạn hát chạy đến, vội vã ấn vào tay anh tập giấy bạc của ông chủ để sẵn cho anh, và nói:

– Mau mà về. Anh Tư! Hỏng từ ban nãy mất rồi! Khốn nạn thân anh quá!

 

Phụ lục 9: CHIẾC ÁO DÀI

(Tùy bút)

Tràng Thiên

Nữ sĩ Linh Bảo đi dự một đại hội thường niên của các nhà sinh vật học Hoa Kỳ tại tiểu bang Vermont, một hôm vừa bước vào phòng ăn bỗng nghe tiếng một người đàn ông Mỹ nói sau lưng: “Bà mạnh giỏi không? Áo zài. Chời ơi!” Nữ sĩ quay lại, hỏi chuyện, thì ông Mỹ tịt: Ông ta chỉ biết có mỗi một câu tiếng Việt ấy. Và trong câu tiếng Việt duy nhất của ông ta đã có cái “áo zài”.

Năm ngoái, trên sân khấu trình diễn tại hội chợ Osaka, so sánh với thiếu nữ của mấy mươi quốc gia trên thế giới, các cô gái Việt Nam vẫn được đặc biệt chú ý mỗi lần xuất hiện với chiếc áo dài.

Đầu năm 1970 ấy, một phái đoàn đại diện báo chí và các cơ quan truyền thông của ta sang thăm Đại Hàn, ông Tổng trưởng Thông tin và Văn hóa Đại Hàn — bấy giờ là ông Shin Bum Shik — có tặng mỗi người một xấp hàng để về làm quà cho vợ! Mở ra xem thì là thứ hàng rất mỏng và dài đúng 2m80. “Chời ơi”, ông Shin Bum Shik am hiểu cái món “văn hóa” Việt Nam ấy sao mà kỹ quá vậy?

Hai trăm năm mươi năm trước, vào đúng ngày cuối năm Canh Thìn đời Cảnh Hưng, sứ giả nước ta là Lê Quí Đôn gặp sứ giả Triều Tiên là Hồng Khải Hy tại Yên Kinh nước Tàu. Đôi bên bút đàm, thành ra thân mật. Đêm trừ tịch của cái năm Canh Thìn ấy, sứ thần Triều Tiên sai con trai mang đến cho Lê Quí Đôn một phong thư và một món tặng phẩm. Trong thư có những câu: “Nhân giở bản đồ, biết có quí quốc, hai nước chúng ta, Đông Nam xa cách, loài trâu ngựa có dông nhau cũng không kịp. Thế mà được cùng hội họp nơi Hồng Lô quán, thực là ngoài sức tưởng tượng”.

Hai trăm năm sau, sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước Hàn Việt càng vượt xa cái sức tưởng tượng của Hồng sứ giả không biết đến bao nhiêu mà nói. Không cần “giở bản đồ”, người đồng bào lỗi lạc của Hồng sứ giả không những đã biết rõ về nước Việt Nam, lại còn biết vanh vách đến cả món y phục của đàn bà con gái nước này nữa. Không những Shin tiên sinh nắm vững kích thước của áo dài, ông lại cảm thông đến cả cái sở trường của nó, là thật mỏng!

Nhưng trong câu chuyện này không phải chỉ có Shin tiên sinh là đáng khen. Phải nhận rằng về phần chiếc áo dài Việt Nam, tự nó cũng phải xuất sắc mới được. Thật chứ: Để cho bấy nhiêu chi tiết về nó thấu đến tai nhà lãnh đạo văn hóa một quốc gia cực bắc, món nữ phục của nước Đông Nam Á này phải lẫy lừng lắm.

Áo dài lẫy lừng ở quốc ngoại. Nó cũng không ngớt ghi những thành công liên tiếp ở quốc nội.

Đôi ba mươi năm trước, phụ nữ miền Nam không mấy người mặc áo dài. Ngày nay thì chiếc áo dài đã thẳng xông xuống tận Năm Căn, U Minh… Áo dài đã Nam tiến đến mũi Cà Mau.

Con đường Tây tiến của nó nhiều trở ngại hơn, nhưng không hẳn sẽ bế tắc đâu. Hôm 14 tháng 4 năm nay, ai có đến xem lễ chịu tuổi của đồng bào gốc Miên tại ngôi chùa đường Trương Minh Giảng đã có dịp thấy hầu hết các cô gái Miên đều mặc áo dài. Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, các nữ sinh trung học gốc Chàm mặc một thứ áo cổ truyền đã cải biến, rất gần với chiếc áo dài của ta.

Hai sắc dân thiểu số tiến bộ nhất đã dần dần chấp nhận áo dài, chắc chắn một ngày không xa, chúng ta sẽ thấy các bạn gái sắc tộc trên Tây nguyên mặc áo dài. Phải, hiện nay thì chưa có, hay hiếm có lắm, cái hình ảnh một thiếu nữ Gia-rai, hay Ba-na, hay Xơ-đăng v.v… với áo dài tha thướt. Nhưng họ đã dùng bà ba, áo thun, xú-chiêng, sơ-mi… Họ sẽ tiến đến áo dài là cái chắc.

Và như thế, thiết tưởng áo dài có một đóng góp không nhỏ vào việc làm nồng nàn thêm tình cảm dân tộc.

Trong một thiên truyện nọ của Sơn Nam, thầy phái viên nhà báo Chim trời ở Sài Gòn xuống tận xóm Cà Bây Ngọp ở Rạch Giá tìm ông độc giả Trần Văn Có để đòi hai đồng sáu cắc rưỡi tiền mua báo. Đến nơi, chủ và khách, sau bữa cơm chiều, đốt lửa un khói rồi chui vô trong mùng trốn muỗi, ngồi nói chuyện. Quanh quẩn một hồi, hai người gặp nhau ở những trang Quốc văn giáo khoa thư: kẻ nhớ bài “Chốn quê hương là đẹp hơn cả”, người thuộc bài “Thú chăn trâu”, mỗi người thay nhau đọc to lên một câu, có khi cả hai cùng hợp xướng: “Đầu tôi đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như roi ngựa…”. Cuộc hàn huyên thú vị quá, tình nghĩa giáo khoa thư đầm ấm quá. Sáng hôm sau, thầy phái viên báo Chim trời từ giã ông bạn đi về Sài Gòn, không thâu một cắc bạc nào.

Hãy tưởng tượng một ngày kia những người bạn gái gặp nhau, kẻ ở U Minh người trên Phú Bổn, kẻ gốc Chàm Phan Rí, người gốc Miên Sài Gòn v.v… mà có thể cùng nhau bàn tán om sòm về những chuyện tà nam, tà bắc, cổ thuyền, cổ hở, cổ tròn, cổ vuông, eo suông, eo thắt v.v… thì cuộc gặp gỡ sẽ hào hứng, thân mật biết mấy! Giữa đàn bà con gái với nhau mà không gặp nhau được ở đề tài ăn mặc, không đem chuyện áo chuyện xống nói với nhau được thì biết làm sao gây được thân tình?

Nhất định rồi một ngày nào đó, tất cả các bạn gái Việt Nam sẽ gặp nhau. Và cũng nhất định, cuộc gặp nhau trên vạt áo dài con gái càng đông đảo, vui thú, thân thiết hơn cuộc gặp trên những trang Quốc văn giáo khoa thư.

Thế cho nên chúng ta tin mạnh ở sự thành công của cuộc thống nhất đất nước bằng chiếc áo dài. Nó êm thấm, đẹp đẽ hơn những đường lối thống nhất bạo tàn biết bao!

Áo dài Việt Nam thắng lớn trong nước và ngoài nước, do đâu mà được vậy?

– Do nó cho thấy gió.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm, sau nhiều tháng ở hội chợ Osaka, chứng kiến sự thắng lợi của chiếc áo dài Việt Nam trước các đối thủ quốc tế, sau khi so sánh các ưu khuyết điểm của y phục phụ nữ các nước được phô diễn tại đây, đã nhận xét như thế.

Mặc áo dài mà đứng yên chưa chắc đã ăn đứt nổi những cô gái Âu Á khác mặc y phục dân tộc của họ. Nhưng mặc áo dài mà đi, mà múa v.v… thì người con gái Việt Nam linh động hẳn lên.

Áo dài Việt Nam nó vừa theo sát những nét tuyệt mỹ của thân người, lại vừa thêm cho tấm thân ấy sự linh động phơi phới mà nó vẫn ao ước. Những tà áo nhẹ ve vẩy phất phơ trong gió làm cho một thân hình nặng nề nhất, cục mịch nhất, cũng hóa ra thanh thoát.

Thân người là đẹp, nhưng thứ y phục chỉ nhằm khai thác cái đẹp của thân người thì rõ ràng là tục. Trang phục là văn hóa, văn hóa là một cố gắng cải biến thiên nhiên. Trang phục mà như mini-jupe, thì ấy là một cuộc phi nước đại trở về tự nhiên, gợi lên những ham muốn trực tiếp vào “tòa thiên nhiên”, là một chối bỏ văn hóa.

Nhưng thân người đẹp, y phục không được phép xóa hẳn cái thân người đi. Trang phục mà như chiếc kimono Nhật thì là một sự quá trớn của văn hóa đấy nhé. Văn hóa cũng phần nào thôi chứ.

Chiếc áo dài Việt Nam là một sự dung hòa giữa tự nhiên và văn hóa. Phần trên của nó đề cao thân người, bạo và tục; đã có phần dưới rất thanh, thoát hẳn thân người.

Nhìn vào một người nữ mặc áo dài, sau khi bị khích động vì cái phần trên, mắt lần dò nhìn xuống, thì ở phần dưới lại chỉ thấy… gió! Vâng! ở đây chỉ thấy có gió (như người nhiếp ảnh gia tinh mắt đã thấy), có cái thướt tha, cái bay bướm mà thôi.

Luận về dân tộc tính, có người đã đặc biệt chú ý đến cái đức tính truyền thống của người Việt Nam là đức tính thiết thực, thể hiện trong lối ăn mặc những áo quần (nhất là quần) rất ít màu sắc. Đúng lắm, quần áo chúng ta lại còn thiết thực ở chỗ gọn ghẽ, giản đơn nữa. Tuy nhiên, nhận xét đây không bao gồm chiếc áo dài phụ nữ. Áo dài gái Việt thì được phép màu mè sặc sỡ, được phép lả lướt. Tha hồ!

Mà như vậy phải chứ. Trong cuộc sinh hoạt thường nhật ở một hoàn cảnh gian khổ, dân tộc ta thiết thực; nhưng áo dài không phải là sinh hoạt thường nhật. Nó là hội hè. Dân tộc nào cũng tự cho phép mình có những ngày hội, những cuộc vui.

Những ve vẩy phấp phới của các tà áo dài là niềm vui hợp lý mà chúng ta tự thưởng cho mình bên cạnh những lao tác nhọc nhằn. Là cái văn vẻ trong cuộc sống tinh thần của dân tộc, sau khi đã nỗ lực củng cố cuộc sống vật chất.

Bởi vậy, trên đất nước, hễ nơi nào còn đang khai phá, còn đang bận rộn vất vả nhiều về công cuộc xây dựng những cơ sở vật chất của đời sống thì chiếc áo dài chưa vội xuất hiện. Chỉ nơi nào đất mới đã khai phá xong, điều kiện sinh sống đã thiết bị xong xuôi, con người đã thảnh thơi, bấy giờ thì hai vạt áo của người đàn bà Việt Nam mới tự buông thõng xuống, phe phẩy, và reo vui với gió.

Hồi sinh thời, anh Y Uyên thích một câu ca dao của tỉnh Phú Yên:

“Con ngựa tía ăn quanh đèo Cả,

Vầng nguyệt đêm rằm bóng ngả về đông.

Chẳng thà tôi giục ngựa về không,

Chẳng thèm cướp của giành chồng người ta”.

“Về không”? — Tốt lắm. Nhưng chuyện “giục ngựa” nghe có hơi kỳ. Đây là chuyện của con gái Phú Yên ba bốn mươi năm trước. Thuở ấy, con gái Phú Yên quấn khăn trùm đầu, cưỡi ngựa phóng như bay. Thuở ấy dĩ nhiên họ chưa mấy người mặc áo dài. Thuở ấy, ở Phú Yên, gái cũng như trai, còn phải xông pha vất vả; cũng là cái thuở — như Võ Hồng từng cho biết — mà văn bằng yếu lược là cả một sự hiếm hoi, cuộc sống tinh thần chưa kịp lo đến. Như thế không phải chỉ riêng trong Nam, mà ngay ngoài Trung, trước đây chẳng bao lâu cũng vắng bóng chiếc áo dài phụ nữ.

Rồi dần dần Phú Yên có văn sĩ, có luôn áo dài. Rồi trong Nam cũng lại nhiều văn thơ, và… áo dài. Áo dài xuất hiện, rồi thịnh phát cùng với sự tăng cao của mức sống, cùng với sự thuần hóa của nếp sống.

Nó là món trang phục đẹp đẽ. Nó đáng yêu, đã đành; nó lại là một dấu hiệu đáng mừng.

 

Phụ lục 10:BAY TRÊN TỔ CHIM CÚC CU (Trích)

(Tiểu thuyết)

Ken Kesey

Tôi đã quá quen với máy phun mù. Ở châu Âu, chúng tôi có cả một trung đội chỉ để chạy những cỗ máy phun mù bảo vệ các sân bay. Khi được điệp báo viên báo trước một đợt ném bom, hay khi các vị tướng chợt có một điều gì bí mật là họ lại khởi động máy tạo sương mù ngụy trang. Gián điệp ở ngay sát nách cũng không thể phát hiện ra.

Đó là một thiết bị không mấy phức tạp: một chiếc bơm hút nước và một loại dầu đặc biệt từ hai bể chứa khác nhau, nén chúng lại và từ vòi phun đen xì cuối cỗ máy phun ra một đám mù màu trắng, đủ để phủ kín một sân bay trong chín mươi giây. Thứ sương mù đó là thứ đầu tiên mà tôi thấy khi đặt chân lên đất châu Âu. Máy bay vận tải của chúng tôi bị vài máy bay do thám bám theo sát nút, và chúng tôi vừa chạm đất là đội phun mù lập tức mở máy. Nhìn qua cửa kính tròn xước xát, chúng tôi thấy máy phun mù được xe Jeep chở đến sát máy bay mình, nhìn sương mù tỏa ra như bông ướt, cuồn cuộn lan khắp sân bay và bám vào làm mờ cả cửa kính.

Sau đó ta phải tìm đường lần ra khỏi máy bay theo tiếng còi trung úy thổi, tiếng còi nghe như tiếng ngỗng kêu đổi mùa, Ra đến bên ngoài là không thấy nổi vật gì cách quá một mét. Ta có cảm giác là mình hoàn toàn đơn độc trên cả sân bay. Được che chở an toàn khỏi mắt kẻ thù, nhưng lẻ loi đến đáng sợ. Tiếng động cách khoảng vài thước cũng bị chìm đi, không còn nghe được tiếng đồng đội, không còn gì ngoài tiếng còi the thé rời rạc xuyên màn trắng mềm mại, mịn màng như lông tơ, đặc quánh đến nỗi phần cơ thể từ thắt lưng trở xuống cũng lặn vào màu trắng; ngoài cái áo nâu và khóa thắt lưng đồng, chẳng còn nhìn thấy gì nữa ngoài màu trắng, cứ như bên dưới hông ta không còn lại gì, đã bị sương mù nuốt hết.

Rồi thình lình sẽ có một người cũng đang lạc lối như ta hiện ra ngay trước mặt, trong đời chưa bao giờ ta được thấy một khuôn mặt người to và rõ ràng đến thế. Vì đôi mắt luôn căng ra, cố xé đám sương mù nên khi có một vật xuất hiện thì mọi đường nét của nó trở nên rõ ràng gấp mười lần bình thường, và cả hai đứa không chịu nổi phải quay mặt đi. Khi có người xuất hiện ta không muốn nhìn mặt họ và họ cũng không muốn nhìn mặt ta, bởi thật đau lòng phải thấy nhau rõ ràng như thấy đến cả ruột gan như thế, nhưng cũng không muốn quay đi để mất hắn và mình trở nên đơn độc. Ta chỉ có hai lựa chọn ấy: hoặc căng mắt nhìn những gì hiện ra từ sương mù, bất chấp đau đớn, hoặc thả mình trôi đi vào lãng quên.

Chúng đã mua chiếc máy phun mù khi người ta thanh lý hàng quân dụng và bí mật nối với hệ thống thông gió ở nhà mới trước khi chúng tôi chuyển về. Lần đầu tiên chúng khởi động máy, theo phản xạ, tôi cố sức căng mắt ra nhìn mỗi khi có vật gì xuất hiện trong màn sương, để bám lấy nó như khi bị phun mù ở sân bay châu Âu. Ở đây không có tiếng còi, cũng chẳn có dây chằng, chỉ có thể định vì bằng cách dán mắt nhìn vào một vật gì đó. Thế nhưng đôi lúc tôi vẫn bị lạc, nếu tìm cách trốn quá sâu trong đám sương mù và mỗi lần như vậy cuối cùng tôi lại thấy mình đang đứng trước cánh cửa sắt không số với một hàng đinh tán trông như những con mặt, cứ như căn phòng đó hút tôi tới đó dù tôi cố kháng cự cách nào, cứ như luồng điện tạo ra trong tay lũ quỷ trong phòng đá đã phóng ra thành một luồng xuyên màn sương để chập lấy tôi kéo theo mình như một rô bốt. Mất nhiều ngày tôi lang thang trong sương mù, mang theo nỗi sợ rằng sẽ không còn được nhìn thấy gì nữa, rồi bỗng nhiên tới bên cánh cửa sắt, đang mở toang cho thấy những bức tường bọc nỉ cách âm, thấy một hàng người như những thây ma sống kia, đứng xếp hàng giữa những cuộn dây đồng đỏ au và bóng điện nhấp nhày, tia lửa điện lập lòe. Tôi đứng sau họ và đợi đến lượt mình. Trân mặt bàn hình thập tự còn in bóng hàng nghìn người bị hạ sát, những cổ tay mắt cá ma đút vào vòng da đã xanh lè vì thấm mồ hôi, những cổ và đầu ma đút vào dải đai bằng bạc đóng ngang trán. Rồi gã kỹ thuật viên ngồi sau bàn điều khiển ngẩng lên nhìn hàng người, chỉ bàn tay đeo găng da vào tôi: “Cẩn thận, tôi biết rõ thằng khốn dài lêu nghêu kia – tốt hơn là nện cho hắn một phát vào gáy hoặc gọi thêm người giúp sức. Hắn giãy khỏe hơn bất cứ đứa nào.”

Thế nên hồi đầu tôi cố thoát khỏi sương mù vì sợ bị lạc lối và rơi vào trước cửa phòng Đột Tử. Tôi nhìn vào bất cứ vật gì nhô ra trước mặt và không rời mắt khỏi chúng như người ta vẫn bám sát hàng cọc tiêu bên đường trong cơn bão tuyết. Nhưng sương mù mỗi lúc một dày và dù cố đến đâu, vài lần một tháng vẫn phải xuất hiện trước cánh cửa địa ngục đang mở rộng, mùi khét của tia lửa điện, mùi ôdôn đang chờ. Mọi cố gắng lẩn trốn càng ngày càng thêm vô ích.

Thế rồi tôi phát hiện điều này: tôi sẽ không lạc đến cánh cửa đó nếu cứ ngồi im trật tự khi sương mù trùm tới. Nhưng phiền hơn nữa là tôi tự tìm đường đến đó bởi quá sợ phải luẩn quẩn trong sương mù, tôi sẽ la lên và thế là chúng tóm được. Nói cho đúng là tôi cố tình gào lên cho chúng tóm; khi ấy tôi nghĩ dù gì cũng hơn lạc lối trong đám khói trắng, dù phòng Đột tử cũng hơn. Còn bây giờ, tôi không biết nữa. Lạc lối trong đám khói trắng cũng không đến nỗi nào.

Cả buổi sáng nay tôi ngồi đợi chúng phun mù trở lại. Mấy ngày nay mù dày quá, mà theo ý tôi có lẽ tại McMurphy. Hắn vẫn chưa bị nối với hệ điều khiển, và chúng đang muốn chộp vào lúc hắn không ngờ. Chúng đã hiểu hắn sẽ là nguồn cơn rắc rối dài lâu; hắn đã kịp nhiều lần khích Cheswick, Harding và một số đứa khác đến mức cảm tưởng như họ sắp đánh lộn với tụi hộ lý đến nơi – nhưng lần nào cũng vậy, hễ một bệnh nhân có vẻ sắp vùng lên là máy phun mù liền được bật lên, cũng như lần này.

Mấy phút trước tôi đã nghe thấy tiếng bơm của máy nén đằng sau tấm lưới sắt, đúng vào lúc tụi Cấp tính đang khuân bàn ra khỏi phòng chung chuẩn bị cho cuộc họp, và chưa chi sương mù đã ùn ùn trên sàn nhà, nhiều đến mức ống quần tôi ướt đẫm. Đang lau cửa kính phòng trực tôi nghe thấy mụ Y tá Trưởng nhấc ống nói gọi cho gã bác sĩ, bảo hắn cuộc họp sắp bắt đầu và yêu cầu hắn dành một tiếng sau bữa ăn trưa để thảo luận với các nhân viên. “Vấn đề hôm nay là”, mụ nói, “theo tôi, đáng ra chúng ta đã phải bàn vấn đề bệnh nhân RandleMcMurphytừ lâu, và nên chăng cứ giữ hắn ở lại khoa ta?” Mụ lắng nghe một lúc rồi nói tiếp. “Tôi cho là phi lý nếu cứ để hắn tiếp tục kích động bệnh nhân như những ngày gần đây.”

Thì ra vì thế mà mụ phải phun sương mù trước khi họp. Trước đây không mấy khi có chuyện đó. Nhưng hôm nay mụ muốn làm gì đó với McMurphy, tống lên khoa Điên là cái chắc. Tôi buông giẻ, đi đến ghế của mình ở cuối hàng các con bệnh Kinh niên, từ đây khó khăn lắm mới thấy các con bệnh lục tục ngồi vào ghế và gã bác sĩ bước vào, tay lau đôi kính như thể không phải sương mù làm hạn chế tầm nhìn mà chỉ vì mặt kính mờ đi.

Chưa bao giờ sương mù cuộn lên dày đặc đến thế.

Tôi nghe văng vẳng ở đâu đó người ta cố bắt đầu một cuộc họp, nói những điều vớ vẩn vô nghĩa về chuyện tại sao Billy Bibbit lại nói lắp. Tiếng nói vọng đến tôi như phải đi qua một màn nước. Sương đặc đến mức tôi dềnh lên khỏi chiếc ghế và không còn phân biệt được đâu là phía trên, đâu là bên dưới. Ban đầu tình trạng mất trọng lượng làm tôi buồn nôn. Tôi không nhìn thấy gì cả. Chưa bao giờ tôi gặp sương đặc đến mức mình trôi lềnh bềnh thế này.

Tiếng người nói lúc trầm lúc bổng, lúc tắt đi, lúc lại vang lên, trên đường tôi trôi ngang dọc, nhưng kể cả lúc to nhất, to và rõ khiến tôi biết người nói đang ngồi ngay bên cạnh, cũng tuyệt nhiên không thấy một ai.

Tôi nhận ra giọng Billy, vì hồi hộp, hắn nói lắp hơn bao giờ hết. “…b…b…bị đuổi khỏi trường tổng hợp v…v…vì bỏ tập quân sự. Khô…khô…không chịu đựng nổi. Kh…kh…khi điểm danh, người sĩ quan gọi ‘Bibbit’, tôi không thể lên tiếng ngay lậ…lậ…lập tức. Đáng ra ph…ph…phải đáp ‘C…c…ó…’,” Billy đánh vật mãi chữ đó như bị vướng cục xương trong họng. Tôi nghe thấy hắn hắng giọng, bắt đầu lại. ” Đáng ra phải đáp ‘có tôi’, nhưng tôi kh…kh…không làm được.”

Giọng nói tắt đi, rồi từ bên trái tiếng mụ y tá cất lên, “Billy, ông có nhớ ông gặp khó khăn khi phát âm từ bao giờ không? Ông bắt đầu nói lắp từ khi nào?”

Tôi không chắc có phải hắn đang cười hay không. “Bắt đầu n…nó…nói lắp? Bắt đầu nói lắp? Tôi bắt đầu nói lắp ngay từ cả chữ đầu t…t…iên:m…m…m…mẹ.”

Cuộc đối thoại lặng im: chưa bao giờ có chuyện này. Cũng có thể Billy đang giấu mình vào trong màn sương. Cũng có thể tất cả tụi Cấp tính đã vĩnh viễn chìm lỉm vào trong đó.

Có một chiếc ghế bơi dập dềnh qua tôi. Đó là vật đầu tiên tôi thấy. Nó trôi ra khỏi màn sương phía phải, sau mấy giây đã ở ngay trước mặt, gần hơn chút nữa là tôi túm được. Thời gian gần đây tôi không chú ý đến các đồ vật hiện ra trong sương nữa, chỉ ngồi yên, không bám theo chúng. Nhưng bây giờ tôi lại sợ như trước đây vẫn sợ. Tôi cố hết sức nhoài người đến chiếc ghế để bắt lấy nó, nhưng điểm tựa không có, tôi chỉ vùng vẫy vô ích trong không khí, còn chiếc ghế hiện ra rõ dần, rõ dần, có thể thấy được vân tay của người thợ mộc để lại trên mặt véc ni lúc chưa khô, vật vờ trước mặt tôi một lúc rồi lại tan biến đi. Tôi chưa bao giờ thấy đồ vật bơi quanh thế này. Tôi chưa bao giờ thấy sương đặc thế, đặc đến khiến tôi không đặt nối chân xuống sàn nhà mà cất bước. Vì thế nên tôi sợ: tôi linh cảm rằng lần này bị cuốn đến một nơi nào đó rất xa và không bao giờ quay lại.

Phía dưới tôi một chút là một bệnh nhân Kinh niên đang bơi lại gần. Đó là đại tá già Matterson đang giơ bàn tay dài, vàng ệch ra đọc những gì ghi trên đó. Tôi nhìn chăm chú vì nghĩ rằng đây là lần cuối cùng được trông thấy lão. Khuôn mặt lão to đến dễ sợ. Mỗi sợi tóc, mỗi nếp nhăn đều được phóng đại như qua kính hiển vi. Tôi nhìn thấy lão rõ đến mức nhìn thấu cả cuộc đời gã. Khuôn mặt là sáu mươi năm ở các trại lính TâyNambị cày nát bởi đạn bom, mòn đến trơ xương bởi hàng nghìn bước chân từng phải nện xuống trong các cuộc hành binh hai ngày không nghỉ.

Lão duỗi bàn tay, gí sát vào mặt, nheo mắt, giơ bàn tay kia đưa ngón tay đã cứng lại như gỗ và bóng lên màu báng súng vì khói thuốc, lần theo từng chữ. Giọng lão trầm, chậm rãi và kiên nhẫn, và tôi nhìn thấy từ phía trong đôi môi cằn cỗi, những chữ nặng và đen đục lần lượt bay ra.

“Xem nào…Lá cờ…đố là nước Mỹ. Nước Mỹ là…quả mận. Quả đào. Quả dưa hấu. Nước Mỹ là…cục đường phèn. Hạt bí. Nước Mỹ là…cái ti vi.”

Đúng thế. Tất cả đều viết trên bàn tay màu vàng. Tôi có thể đọc theo lão.

“Bây giờ…Cây thánh giá… Là nướcMexico.” Lão ngẩng mặt lên xem tôi có nghe không; thấy tôi vẫn chú ý theo dõi, lão cười và đọc tiếp: “Mexicolà… quả bồ đào. Quả dẻ. Quả sồi. Mexico là… cầu vồng. Cầu vồng… bằng gỗ,Mexico… bằng gỗ.”

Tôi hiểu lão muốn nói điều gì. Những lời kiểu đó lão đã lặp đi lặp lại suốt sáu năm nay nhưng chưa bao giờ tôi để ý, vì cho lão chỉ là một bức tượng biết nói, một đồ vật được cấu tạo từ những khớp xương, bắp thịt, biết vung ra những định nghĩa ngốc nghếch, không chứa đựng một giọt ý nghĩa nào. Đến lúc này tôi mới hiểu lão nói gì. Tôi đang nhìn lão lần cuối, muốn khắc hình ảnh lão vào ký ức, và vì cố sức nhìn tôi đã bắt đầu hiểu lão. Lão dừng lại và nhìn tôi xem có thật tôi hiểu không, và tôi muốn hét lên với lão Vâng, tôi hiểu! Mexicođúng là quả bồ đào, màu nâu và cứng và nhìn vào là ông hiểu và ông thấy nó hệt như quả bồ đào. Bố già ơi những lời bố nói đều có ý nghĩa, bố đâu có điên như người ta nghĩ. Vâng, tôi hiểu…

Nhưng sương mù đã tràn vào họng, không thể thốt ra được lời nào. Lão trôi ra xa và lại cúi xuống bàn tay của mình.

“Bây giờ… Con cừu xanh – đó là Canada. Canada– đó là cây thông. Đồng lúa mì. Tờ lịch…”

Lão bơi xa dần, còn tôi cố nhìn theo, mắt căng lên. Tôi cố đến mức mắt nhức nhối phải nhắm lại và khi mở ra thì không còn thấy đại tá đâu. Tôi lại bơi một mình, bơ vơ, lạc lõng.

Tôi nghĩ: Thế là xong. Hết đường về.

Rồi ông già Pete hiện ra, mặt như cái đèn pha. Lão ở bên trái tôi, cách những năm chục thước, nhưng tôi vẫn thấy rõ ràng như không hề có sương mù. Hay lão ở ngay sát tôi và thật ra thì lão rất nhỏ bé, tôi không hiểu nữa. Lão nói một lần với tôi là lão mệt, và qua hai chữ đó tôi nhìn được toàn bộ cuộc đời lão trên tuyến đường sắt, thấy lão đánh vật với chiếc đồng hồ để đọc thời gian, vã mồ hôi mới lồng được cúc áo vào khuyết trên bộ đồ đường sắt, kiệt sức mới hoàn thành nổi một công việc mà đồng nghiệp thừa thời gian để ngồi ghế lót bìa mà đọc tiểu thuyết trinh thám hay chuyện ái tình ba xu. Mặc dù chưa bao giờ lão tìm ra bí quyết để dấn lên – ngay từ đầu lão đã hiểu rằng mình không đủ sức – nhưng vẫn phải gắng mãi, chỉ để không bị bỏ rơi. Cứ thế suốt bốn mươi năm lão đã sống, nếu không ở ngay trong lòng của cộng đồng loài người thì ít ra cũng bên lề của nó.

Tôi thấy hết và đau lòng bởi tất cả những gì đang phải chứng kiến, cũng như đau lòng khi chứng kiến những sự kiện trong quân đội, hồi chiến tranh. Cũng như khi chứng kiến những điều xảy ra với ba và bộ lạc. Tôi cứ nghĩ mình đã vượt qua, không còn mãi buồn bực trước những điều tai nghe mắt thấy. Làm thế chẳng được gì cả. Người ta chẳng thể làm gì.

“Tôi mệt rồi,” lão nói.

“Tôi biết ông đã mệt, Pete ạ, nhưng có ích gì đâu nếu tôi buồn bực vì ông. Ông biết mà.”

Pete trôi đi theo vết của đại tá.

Và đây là Billy Bibbit, cũng xuất hiện từ chỗ của Pete. Người này nối gót người kia trôi qua cho tôi nhìn lần cuối. Tôi biết Billy chỉ cách tôi vài bước, nhưng hắn bé tí tẹo tưởng chừng như đang ở xa hàng ki lô mét. Hắn đang cố vươn lại phía tôi với bộ mặt của thằng ăn mày, cần nhiều đến mức không ai cho nổi. Miệng hắn mở rồi khép như con rối.

“Thậm chí kh… kh… khi hỏi vợ, tôi cũng làm hỏng cả. Tôi nói ‘E… em yêu, hãy làm v… v… v… v… v…’ và cô ta phá lên cười.”

Giọng mụ y tá, tôi không hiểu từ đâu: “Billy, mẹ ông có kể cho tôi nghe về cô gái đó. Rõ ràng là cô ta không xứng với ông. Theo ông, cái gì ở cô ta đã làm ông sợ đến thế.”

“Tôi y… yê… yêu cô ta.”

Và cả mày nữa, Billy, tao cũng không giúp được gì. Mày biết mà. Chúng tao chẳng ai giúp được. Mày đã hiểu rằng khi có ai đứng lên giúp đỡ kẻ khác, hắn phơi mình ra giữa trời. Chúng ta bắt buộc phải khôn lanh, Billy, điều đó mày hiểu không kém những đứa khác. Tao làm được gì đây? Tao không thể chữa được tật nói lắp cho mày. Tao không xóa được vết sẹo cổ tay vì lưỡi dao cạo hay những đám bỏng vì tàn thuốc trên mu bàn tay mày. Tao không thể tìm cho mày một người mẹ khác. Và nếu mụ Y tá Trưởng có nhạo báng, phỉ nhổ mày, đay đi đay lại những khuyết tật bẩm sinh để tước nốt chút danh dự ít ỏi khiến mày hổ nhục co rúm lại đến tí hon thì tao cũng không làm gì được. Ở Anzio, một đồng đội của tao bị trói vào gốc cây chỉ cách tao năm mươi mét, nó gào lên xin nước, mặt rộp lên dưới cái nắng chói chang. Quân địch đợi tao ra cứu bạn. Đợi để biến tao thành cái bia sống từ ngôi nhà nông dân bên đường.

Hãy quay mặt đi, Billy.

Hết đứa này đến đứa khác bơi qua.

Và trên mỗi bộ mặt viết rành rành như trên tấm biển “Tôi bị mù” mà bọn người Ý chơi accordion ở Portland vẫn đeo, nhưng ở đây là “tôi mệt”, “tôi sợ”, “tôi chết mất vì xơ gan”, hay “tôi bị gắn vào máy móc và bị tất cả đá đít “. Tôi đọc được tất cả, dù chữ in li ti đến mức nào. Nhiều đứa trong chúng cũng đang quay ngang quay ngửa, chỉ cần muốn là có thể đọc được tấm biển của người kia, nhưng để làm gì? Những khuôn mặt lao qua trong sương mù, troogn như những vụn giấy hoa.

Chưa bao giờ tôi lạc xa đến thế. Có lẽ chết là như thế này đây. Tôi chắc tụi Thực vật cũng có cảm giác như tôi lúc này: như đánh mất mình trong đám sương. Ta bất động. Chúng nạp thức ăn vào cái xác ta đến lúc nó không còn ăn được nữa, rồi chúng mang nó đi thiêu. Cũng không đến nỗi tệ. Không đau đớn gì cả. Và rồi không cảm thấy gì ngoài lạnh thấu xương, nhưng cái lạnh rồi sẽ qua.

Tôi thấy viên sĩ quan chỉ huy gắn tờ giấy lên bảng thông báo, cho biết lính mặc gì hôm nay. Tôi thấy Bộ nội vụ Hoa Kỳ cùng chiếc máy nghiền đá tiến về bộ lạc bé nhỏ của chúng tôi.

Tôi thấy ba chạy bật ra từ dưới đường hào và chậm lại lấy thế ngắm vào con hươu sáu gạc đang chạy vào bụi bá hương. Nòng súng nhả hết viên này đến viên khác, nhưng đạn chỉ cày lên quanh con hươu một đám bụi. Tôi ra khỏi đường hào theo sau ba, nâng súng lên và chỉ bằng hai viên đã hạ được con hươu đang định trốn lên mỏm đá. Tôi cười với ba.

Lần đầu tiên con thấy ba bắn trượt. Mắt ba không còn như xưa, con yêu ạ. Không giữ nổi điểm ngắm. Đầu ruồi cứ rung lên, run lên như con chó đang rặn hạt đào.

Ba, hãy nghe con, rượu xương rồng của Sid đã làm ba xuống sức trước tuổi.

Con ạ, ai bắt đầu uống rượu xương rồng của Sid, kẻ đó đã xuống sức trước tuổi. Thôi, ba con mình đi moi ruột con hươu ra trước khi ruồi kịp bu vào.

Mà đó còn không phải một chuyện đang diễn ra trước mắt. Mày hiểu chứ? Mày chẳng làm được gì với những chuyện từ quá khứ hiện về.

Nhìn kìa, ô ô.

Tôi nghe tiếng thì thầm, của tụi hộ lý.

Nhìn kìa, thằng đần Bàn chải đang ngủ gật.

Khôn lắm, thủ lĩnh Bàn chải, không lắm. Ngủ là mày thoát mọi phiền hà. Phaaải.

Tôi hết lạnh rồi. Chắc đã thành công. Tôi đã đến nơi cái lạnh không thể tràn tới. Tôi có thể ở lại vĩnh viễn. Tôi không sợ nữa. Chúng không thể tìm đến chốn này. Chỉ có tiếng nói tìm đến được, nhưng rất yếu ớt.

Thôi được, bởi Billy nhất mực từ chối tham gia thảo luận, còn ai khác muốn kể cho nhóm nghe về những khó khăn của mình không?

Thú thật, thưa bà, tình cờ là tôi có…

Chính hắn, McMurphy. Hắn ở xa lắm. Hắn vẫn cố lôi mọi người ra khỏi sương mù. Sao hắn không để tôi yên?

“…các vị còn nhớ, hình như hôm qua thì phải, chúng ta đã biểu quyết về giờ xem tivi? Hôm nay là thứ Sáu, tôi thiết nghĩ chúng ta nên quay lại vấn đề này lần nữa, để xem có thể ai đó đã có thêm chút gan.”

“Ông McMurphy, đây là buổi họp nhằm mục đích điều trị, điều trị tập thể, và tôi chắc những hờn dỗi không đáng kể…”

“Được rồi, được rồi, vứt mẹ bài đó đi, tụi tôi đã nghe cả rồi. Tôi và một vài người đã quyết định…”

“Hãy khoang, ông McMurphy, cho phép tôi hỏi cả nhóm: Các ông có cảm thấy là McMurphy đang áp đặt ý muốn cá nhân cho một số bệnh nhân không? Theo tôi, các ông sẽ vui lòng nếu tôi chuyển McMurphy sang khoa khác.”

Tất cả im lặng. Rồi một đứa nói: “Hãy để McMurphy biểu quyết. Tại sao lại cấm? Bà muốn đưa ông ta lên khoa điên chỉ vì ông ta yêu cầu được biểu quyết? Xem tivi vào những giờ khác thì có chết ai?”

“Ông Scanlon, theo tôi nhớ, ông đã từng tuyệt thực ba ngày liền cho đến tận khi chúng tôi chịu cho phép ông bật tivi vào lúc sáu giờ chiều thay vì sáu rưỡi như cũ kia mà?”

“Người ta phải theo dõi thời sự chứ, không được à? Nếu không,Washington có thể bị ném bom cả tuần mà chúng tôi vẫn không hề biết.”

“Ông sẵn sàng hy sinh phần tin tức để xem mấy gã đàn ông đánh bóng chày?”

“Cả hai cái không được hả? Tôi thấy có vẻ là không. Thây kệ nó đi, chắc gì tuần này đã bị ném bom.” “Cứ để ông ta biểu quyết, bà Ratched!”

“Tốt thôi, nhưng tôi thấy đây là một bằng chứng rõ ràng cho thấy ông McMurphy đã làm một vài trong số bệnh nhân các vị khó chịu. Thế nào, ông định đề nghị điều gì, ông McMurphy?”

“Tôi đề nghị tái biểu quyết chuyện xem tivi ban ngày.”

“Ông tin rằng sau lần biểu quyết này ông sẽ thỏa mãn không kỳ kèo nữa? Chúng ta còn nhiều việc khác quan trọng hơn…”

“Tôi sẽ được thỏa mãn. Tôi chỉ cần biết kẻ nào trong số những thằng ngốc này còn can đảm, kể nào không.”

“Chính là những câu chuyện loại này, bác sĩ ạ, khiển tôi hiểu là bệnh nhân sẽ dễ chịu hơn nếu chúng ta chuyển McMurphy đi nơi khác.”

“Cứ để ông McMurphy biểu quyết. Tại sao lại cấm nhỉ?”

“Tất nhiên, ông Cheswick. Vậy thì chúng ta biểu quyết bây giờ. McMurphy, với ông biểu quyết giơ tay đã đủ chưa hay phải bỏ phiếu kín?”

“Tôi muốn nhìn thấy những cánh tay. Tôi muốn nhìn thấy cả những cánh tay không giơ lên.”

“Ai muốn xem tivi ban ngày, đề nghị người đó giơ tay lên.”

Cánh tay đầu tiên là của McMurphy, tôi nhận ra nhờ vòng bằng trắng quấn ở bàn tay bị thương trong khi nhấc bệ điều khiển. Sau đó, từ trong sương mù tôi thấy từng cánh tay một nhô lên. Tựa như…tựa như bàn tay lớn của McMurphy khua vào trong sương nắm lấy tay từng người và lôi họ ra lần lượt, vừa đi ra vừa chớp mắt vì ánh sáng quá chọi chang. Đầu tiên một người, sau đó thêm người nữa, rồi người nữa…Cứ thế dọc chuỗi tụi Cấp tính, lôi họ khỏi màn sương tới khi họ đứng, tất cả hai mươi người, và họ giơ tay không còn để xem trận bóng mà để chống lại mụ Y tá Trưởng, chống lại phòng điên mà mụ muốn dành cho McMurphy, chống lại tất cả những gì mụ đã nói, đã làm, đã áp bức, đè nén chúng trong bao năm qua.

Căn phòng trở nên im ắng. Tôi có thể hình dung tất cả, từ con bệnh đến nhân viên đều sửng sốt. Bản thân mụ Y tá Trưởng cũng không hiểu nổi điều gì đã xảy ra: chiều qua trước lúc hắn thử nâng bệ điều khiển, chắc không vượt quá bốn hay năm đứa có ý định giơ tay. Nhưng mụ nói, bằng cái giọng không thể đoán được là mụ đang ngạc nhiên:

“Tôi chỉ đếm được hai mươi, ông McMurphy.”

“Hai mươi? Bà cần gì hơn? Tụi tôi chỉ có hai mươi..,.” Giọng hắn chùng xuống vì chợt hiểu ra mụ muốn nói gì. “Ê, khoan một phút đã, mẹ khỉ, thưa bà…”

“Tôi e rằng đề nghị của ông không được chấp thuận.”

“Khoan đã, chờ một phút, mẹ khỉ!”

“Ông McMurphy, khoa có bốn mươi bệnh nhân. Bốn mươi. Ông chỉ giành được hai mươi phiếu thuận. Để thay đổi trật tự đã quy định, ông cần đa số. Tôi cho là cuộc bỏ phiếu đã xong.”

Những cánh tay lần lượt hạ xuống. Họ bắt đầu thấy mình đã trúng đòn, mỗi người tìm một đám sương, lẻn vào đó cho an toàn. McMurphy chồm dậy.

“Chết mẹ đi cho rồi. Bà muốn trở mặt bằng cách ấy à? Bà tính cả những gốc cây lọm khọm kia sao?”

“Bác sĩ, phải chăng ông chưa giải thích quy chế bỏ phiếu cho McMurphy?”

“Rất tiếc… là cần đa số, McMurphy ạ. Bà ấy nói đúng.”

“Cần đa số, ông McMurphy, điều lệ của phân khoa đã quy định như vậy.” “Và theo như tôi hiểu thì sửa đổi cái điều lệ chết mẹ cũng phải cần số đông. Thôi, rõ rồi. Tôi đã từng chứng kiến đủ mánh khóe gian xảo, nhưng chưa cái nào khốn nạn như cái này!”

“Rất tiếc, ông McMurphy, nhưng điều đó có văn bản rõ ràng, và nếu ông cần tôi có thể…”

“Thứ dân chủ giả hiệu đó đáng giá mấy xu?…Mẹ đẻ ơi.”

“Hình như ông đã mất tự chủ. Bác sĩ, ông không thấy là ông ta mất tự chủ ư? Hãy chú ý điều đó.”

“Bà tắt nhạc giùm. Khi bị chơi đểu, người ta có quyền kêu. Mà chúng tôi đã bị các người chơi đủ lắm rồi.”

“Bác sĩ, vì tình trạng của bệnh nhân, chúng ta nên chấm dứt sớm cuộc họp hôm nay…”

“Khoan đã, đợi cho một tí. Hãy để tôi nói chuyện với các cụ già.”

“Cuộc bỏ phiếu kết thúc, ông McMurphy.”

“Để tôi nói chuyện với họ.”

Hắn băng qua phòng, tiến về phía chúng tôi. Hắn cứ thế lớn lên mãi, lớn mãi, mặt cháy đỏ rừng rực. Thọc tay vào đám sương mù, hắn cố lôi Ruckly ra ánh sáng vì Ruckly trẻ nhất đám.

“Còn mày thì sao, chú em? Muốn xem Vòng chung kết không? Bóng chày. Những trận bóng chày. Chỉ cần giơ tay lên…”

“Đđđđ mẹ con vợ.”

“Thôi được, bỏ đi. Còn mày, thì sao, anh bạn? Mày tên gì nhỉ…Ellis? Ellis, mày nói coi có muốn xem tivi không? Chỉ cần giơ tay lên…”

Hai tay Ellis bị đóng đinh vào tường, không thể coi là hắn bỏ phiếu thuận.

“Ông McMurphy, tôi đã nói là cuộc bỏ phiếu đã kết thúc. Ông đang tự biến mình thành trò hề.”

Hắn không nghe mụ nói gì. Hắn tới từng đứa trong tụi Kinh niên. “No, chỉ cần một đứa trong tụi bay nữa, một cánh tay giơ lên nữa là xong. Hãy chứng minh cho bà ta thấy tụi bay còn làm được.”

“Tôi mệt rồi,” Pete lắc đầu.

“Đêm… đó là Thái Bình Dương,” Đại tá đọc, không thèm bận tâm đến biểu quyết.

“Chỉ cần một thằng nữa thôi, mẹ kiếp! Giành được cơ hội chính là lúc này. Chẳng lẽ tụi bay không hiểu? Chúng ta phải chiếm thế trên – nếu không chúng ta sẽ bị đì mãi mãi. Ôi, những thằng đụt, không còn đứa nào hiểu tao nói nữa sao? Gabriel? George? Không hả? Còn mày, Thủ lĩnh?”

Trong sương mù, hắn đứng phía trên tôi. Sao hắn không chịu để tôi yên?

“Thủ lĩnh, chúng tao chỉ hy vọng vào mày nữa thôi.”

Mụ y tá soạn lại giấy tờ. Các nữ y tá vây quanh mụ ta. Cuối cùng mụ cũng đứng dậy.

“Cuộc họp kết thúc ở đây,” tôi nghe mụ nói. “Sau khoảng một tiếng yêu cầu các bác sĩ y tá tập trung ở phòng nhân viên. Vì thế, nếu không còn gì…”

Quá muộn rồi, không dừng được nó. Từ hôm đầu tiên McMurphy đã lén làm gì nó, yểm bùa nó khi chạm tay mình vào khiến nó không còn tuân theo ý tôi. Chẳng có ích đâu, thằng ngu nào cũng hiểu ra mà: chẳng đời nào tôi lại tự ý làm thế. Mụ đang nhìn như muốn nuốt lấy tôi và không tìm ra từ để nói, tôi hiểu là nguy hiểm đang chờ nhưng không dừng nó được. McMurphy đã ngầm gắn dây vào nó, nhấc nó lên chầm chậm để lôi tôi khỏi đám sương mù ra giữa đồng không, để bầy thú cùng nhảy vào xâu xé. Chính là tại hắn, gắn dây…

Không. Không đúng. Tự tôi đã giơ nó lên.

McMurphy hú lên và lôi tôi đứng dậy, vỗ vào lưng tôi.

“Hai mươi mốt. Cả Thủ lĩnh nữa là hai mươi mốt người! Và nếu đây không phải là đa số thì hãy chọc mù mắt tôi đi!”

“Ha-ha-ha!” Cheswick hét lên chiến thắng. Tụi Cấp tính ùa lại phía tôi.

“Cuộc họp đã bế mạc,” mụ Y tá Trưởng nói. Mụ để nguyên nụ cười trê môi, nhưng khi rời phòng chung, quay về buồng kình, gáy mụ phồng lên, đỏ bầm tưởng như mụ sắp nổ tung.

Nhưng mụ vẫn chưa nổ, chưa phải lúc đó, phải mãi một tiếng sau. Nụ cười sau tấm kính méo mó, lạ lùng như chưa bao giờ thế. Mụ chỉ ngồi. Đôi bờ vai nhô lên, thụt xuống theo mỗi nhịp thở.

McMurphy nhìn lên đồng hồ tường và nói rằng trận đấu đang bắt đầu. Hắn đang cùng vài đứa Cấp tính quỳ xuống cọ chân tường cạnh vòi nước uống. Còn tôi, lần thứ mười trong ngày quét dọn phòng đựng bàn chải. Scanlon và Harding kéo chiếc máy đành sàn dọc hành lang, vạch ra trên lớp sơn mới những hình số tám bóng lộn. McMurphy nhắc lại một lần nữa là trận bóng đã bắt đầu và đứng dậy, ném cái giẻ xuống ngang đường. Những đứa còn lại vẫn lúi húi với công việc. Khi hắn đi qua cửa sổ buồng kính, mụ Y tá Trưởng cau có nhìn ra, hắn nhăn nhở cười như muốn nói với mụ giờ đây hắn là kẻ thắng. Gặp cái hất đầu và nháy mắt của hắn, mặt mụ lại khẽ giật sang bên.

Tất cả vẫn chăm chú làm việc, nhưng mắt chúng lén lút theo dõi McMurphy đang kéo chiếc ghế bành đến sát tivi, bật lên và ngồi xuống. Từ đám nhiễu trên màn hình hiện ra cảnh một con vẹt đang trọ trẹ hát bài cổ động trên sân bóng. McMurphy đứng dậy, vặn tivi to lên để át đi tiếng nhạc từ chiếc loa trên trần nhà rồi đặt thêm một chiếc ghế trước mặt để gác chân lên đó. Hắn ngồi xuồng, duỗi thẳng người, rút thuốc ra hút, vừa xoa bụng vừa ngáp.

Ôi, thiếu mỗi bia và một cái xúc xích là sung sướng cuộc đời.”

Chúng tôi nhìn thấy mụ y tá nhìn hắn, mặt đỏ lên, môi mấp máy. Mụ ngoái đầu ra hành lang: tất cả đang quan sát, chờ xem mụ sẽ làm gì, kể cả tụi hộ lý, các nữ y tá nhỏ bé, thậm chí cả tụi bác sĩ thực tập đang tụ tập chờ cuộc họp cũng kín đáo đưa mắt về phía buồng kính. Mụ quay lại nhìn McMurphy, đợi cho bài ca của con vẹt kết thúc, rồi đứng dậy đi về phía cánh cửa sắt nơi đặt bàn phím điều khiển, ấn một cái nút khiến màn hình co lại rồi biến mất. Chỉ còn một đốm sáng như con mắt đang hấp háy nhìn thẳng xuống McMurphy. Hắn không chút bối rối vì con mắt đó. Đúng hơn hắn cũng chẳng tỏ ra để ý là tivi đã tắt: hắn cắn chặt lấy điếu thuốc và kéo sụp mũ xuống trán tới khi để nhìn được màn hình, hắn phải ngả người ra.

Hắn cứ ngồi vậy, tay chắp tay sau gáy, chân gác lên ghế, đám khói thuốc lá vòng vèo bốc lên từ dưới chiếc vành mũ – và ung dung xem ti vi.

Mụ y tá chịu đựng cảnh này đến lúc hết chịu nổi, rồi mụ thò đầu ra và la hắn đi giúp tụi còn lại dọn vệ sinh. Hắn thây kệ.

“McMurphy, tôi bảo vào giờ này ông phải làm việc.” Trong giọng mụ có tiếng rít của lưỡi cưa điện ăn vào gỗ thông. “McMurphy, tôi cảnh cáo ông.”

Tất cả ngừng tay. Mụ ngó quanh rồi bước ra khỏi phòng kính và đi về phía McMurphy.

“Ông được gửi tới đây, hiểu không? Ông thuộc quyền quản lý của tôi… của bệnh viện.” Mụ giơ nắm đấm lên, những móng vuốt màu da cam chực chọc thủng lòng bàn tay. “Thuộc quyền quản lý và khống chế…”

Harding tắt máy chùi sàn, để nó ngoài hành lang, ra kéo chiếc ghế ngồi xuống bên cạnh McMurphy và cũng rút thuốc ra hút.

“Ông Harding! Hãy quay lại với công việc thuộc thời khóa biểu!”

Giọng mụ ré lên như lưỡi cưa chạm vào đinh, và nghĩ như thế suýt nữa thì tôi bật cười.

“Ông Harding!”

Sau đó Cheswick cũng kè kè chiếc ghế đi tới, rồi Billy Bibbit, và rồi Scanlon, Fredrickson và Sefelt, rồi tất cả chúng tôi cùng quẳng giẻ và bàn chải xuống rồi mang ghế lại.

“Các người… dừng lại, dừng lại!”

Mấy chục đứa ngồi thành hàng trước cái tivi đã tắt, hướng mắt vào màn hình đen xì như đang theo dõi một trận đấu thực thụ, còn sau lưng, mụ Y tá Trưởng đang phát điên phát cuồng.

Nếu ai đó bước vào nhìn thấy cảnh này, một nhóm người ngồi nhìn chiếc tivi câm lặng như cái hộp gỗ, một mụ đàn bà năm mươi tuổi cứ gào thét lải nhải đằng sau gáy họ về kỷ luật, trật tự và hình phạt, hẳn người ấy phải nghĩ rằng đây là một lũ điên.

 

Phụ lục 11: CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ (Trích)

(Tiểu thuyết)

                                                            Svetlana Alexievich

Giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm văn bản. Đây là tiểu thuyết đạt giải Nobel văn chương 2015 đã được Nguyên Ngọc dịch sang tiếng Việt, do sự liên kết xuất bản và phát hành của Công ty cổ phần sách Tao Đàn, địa chỉ 12 Hàng Than, Ba Đình, Hà Nội (0422149698;www.sachtaodan.vn), in xong và nộp lưu chiểu 2017.

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *