Đề văn 11 Trẻ con không được ăn thịt chó, Nam Cao

Đề thi khối 11
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI KỲ THI KẾT THÚC HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2023-2024

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11

Thời gian làm bài 90 phút, không kể

thời gian giao đề

(Đề thi gồm 02 trang)

 

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:

     (Tóm tắt đoạn trước đó: Câu chuyện kể về một kẻ nghiện rượu bỗng một ngày lên cơn thèm thịt chó. Khi nhìn thấy con chó nhà mình nằm ở bờ rào hắn đã viện đủ lí do để thịt nó. Đám con đói lâu ngày cũng háo hức chờ được ăn. Người vợ đành đi mua chịu thêm gạo, rượu, mắm để về nấu. Thế nhưng khi nấu xong, gã chồng mời bạn bè về nhậu. Dưới bếp mấy mẹ con còm cõi nheo nhóc ngồi chờ.)

Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm, quây quần với nhau trong xó bếp. Trong gia đình này, năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới cái ách một ông bạo chúa.

Thấy lũ con đứa nào cũng nhăn nhăn, nhó nhó, người mẹ thương đứt ruột. Thị biết rằng chúng đói. Khi người ta đã đói mà lại ngửi thấy mùi thịt chó, thì bụng càng đói thêm. Thế mà bữa rượu của người bố với ba ông khách cứ kéo dài mãi. Nghĩ mà bực quá! Cái thể không chết được, chứ giá chết được thì thị chỉ thắt cổ đi cho rồi….Thị dỗ con:

  • Cố mà nhịn lúc nữa, các con ạ. Đợi trên nhà ăn xong, còn thừa thì ta ăn.

Rồi muốn cho chúng quên đi, thị sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Úi chà! Nhiều chấy quá! Chỉ việc rẽ một đám tóc ra là đủ thấy bốn, năm con bò lổm ngổm. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ thi nhau bắt. Chúng cho cu Con mấy con chấy kềnh làm trâu. Mới đầu cái trò chơi ấy cũng hay hay. Nhưng chỉ một lúc là chúng chán. Thằng cu Con ra hiệu đình công trước. Nó lăn vào lòng mẹ, oằn oại vừa hụ hị kêu:

  • Đói!…Bu ơi! Đói…

Tức khắc những đứa kia cũng nhớ ra rằng chúng đói. Chúng không bắt chấy cho mẹ nữa. Chúng thở dài. Chúng nuốt bọt nhem nhép. Chúng thừ mặt ra. Chúng nằm ẹp xuống đất và lật áo lên để khoe cái bụng. Bụng đứa nào đứa nấy cũng gần dính lưng.

Mắt thị rơm rớm nước. Cũng may, tiếng người bố trên nhà gọi:

  • Cái Gái đâu! Dẹp mâm đi, này!

Bốn đứa trẻ cùng nhỏm dậy: mặt chúng đột nhiên tươi tỉnh lại. Gái “vâng” một tiếng thật to và chạy lên. Cu Nhớn, cu Nhỡ ngồi chồm chỗm đợi…Một lát sau, Gái bê mâm xuống. Nó cũng nâng lên ngang mặt như cha lúc nãy. Các em nó đứng cả lên, chực đu lấy cái mâm. Nó càng nâng cao hơn, mồm thét:

  • Khoan! Khoan! Kẻo vỡ…

Cu Nhớn thét:

  • Thì bỏ xuống!

Cái Gái vênh mặt lên, trêu nó:

  • Không bỏ. Không cho chúng mày ăn.
  • Có sợ thành tật không?
  • Không cho ăn thật đấy.

Cu Nhỡ sốt ruột, khoặm mặt lại, vằng nhau với chị:

  • Làm trò mãi! Có bỏ xuống đây không nào?

Gái hạ nhanh mâm xuống đất bảo:

  • Này, ăn đi.

Nó ngẩng mặt nhìn các em, cười the thé. Người mẹ xịu ngay xuống. Trong mâm, chỉ còn bát không. Thằng cu Con khóc òa lên. Nó lăn ra, chân đạp như một người giãy chết, tay cào xé mẹ. Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rưng khóc. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ cũng khóc theo.

(Trích Trẻ con không được ăn thịt chó, viết năm 1942, in trong Tổng tập văn học Việt Nam– tập 32.)

* Chú thích:

– Tác giả: Nam Cao (1915-1951), quê tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Trước Cách mạng tháng 8, ông sáng tác chủ yếu hai đề tài: về người nông dân nghèo, và về người trí thức nghèo. Sau Cách mạng tháng 8, ông tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nam Cao là nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc của văn học Việt Nam. Ngòi bút hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt, sắc lạnh, vừa chan chứa yêu thương.

– Tác phẩm: Trẻ con không được ăn thịt chó, viết năm 1942, in trong Tổng tập văn học Việt Nam– tập 32.

Câu 1.(1,0 điểm): Xác định ngôi kể, đề tài của đoạn trích trên.

u 2.(1,0 điểm): Việc sử dụng kết hợp điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật trong truyện có tác dụng gì?

Câu 3.(1,0 điểm): Đoạn văn: “Người mẹ xịu ngay mặt xuống. Trong mâm, chỉ còn bát không. Thằng cu Con khóc òa lên. Nó lăn ra, chân đập như một người giẫy chết, tay cào xé mẹ. Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rưng khóc. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ cùng khóc theo.” gợi cho anh/chị cảm xúc gì?

Câu 4.(1,0 điểm): Nêu hiệu quả của phép liệt kê được sử dụng trong đoạn văn: Tức khắc những đứa trẻ kia cũng nhớ ra rằng chúng đói. Chúng không bắt chấy cho mẹ nữa. Chúng thở dài. Chúng nuốt nước bọt nhem nhép. Chúng thừ mặt ra. Chúng nằm ẹp xuống đất và lật áo lên để khoe cái bụng. Bụng đứa nào cũng gần dính lưng.

Câu 5.(1,0 điểm): Chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết trong đoạn văn sau: Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm, quây quần với nhau trong xó bếp. Trong gia đình này, năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới cái ách một ông bạo chúa.

Câu 6.(1,0 điểm): Anh/ chị có đồng tình với cách hành xử của người chồng/cha trong câu chuyện đối với vợ con không? Vì sao?  (đoạn văn 5-7 câu).

PHẦN II: VIẾT ( 4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận ( khoảng 400- 500 chữ) phân tích và đánh giá nét nổi bật trong nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Nam Cao qua đoạn trích: “Trẻ con không được ăn thịt chó”.

    

HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN: NGỮ VĂN –

LỚP 11

(Hướng dẫn chấm gồm 04 trang)

YÊU CẦU CHUNG

– Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để đánh giá chính xác, tránh đếm ý cho điểm. Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo.

– Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm.

– Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn.

ĐÁP ÁN HƯỚNG DẪN

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 6.0
  1 – Đoạn trích trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ ba.

– Đề tài:  Người nông dân nghèo trước CMT8

0.5

0,5

2 Việc sử dụng kết hợp điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật trong truyện có tác dụng: Vừa giúp cho người đọc có được cái nhìn khách quan, bao quát, nắm được các sự kiện của câu chuyện; đồng thời lại giúp người đọc biết được những chuyển biến trong nội tâm của nhân vật người mẹ.

 

1,0

 

 

 

 

 

3 – Đoạn văn nói lên sự cam chịu, uất ức, bất lực của người mẹ; sự thất vọng của những đứa con khi chờ đợi, hi vọng mãi mà bố và các bạn ăn hết chẳng còn gì.

– Gợi cảm xúc:

+ Thương xót cho tình cảnh khốn khổ của mẹ con họ.

+ Đau đớn, day dứt trước sự tha hóa của con người.

0.5

 

 

0,5

4 – Liệt kê những trạng thái, hành động của những đứa trẻ; không bắt chấy cho mẹ nữa; thở dài; nuốt nước bọt nhem nhép; thừ mặt ra; nằm ẹp xuống đất và lật áo lên để khoe cái bụng

– Hiệu quả

+ Chỉ ra một cách đầy đủ những trạng thái cảm xúc, hành động của những đứa trẻ bị đói mà phải chứng kiến người khác đang ăn uống, từ đó, nhấn mạnh sự khốn khổ của những đứa trẻ trong nạn đói; sự tham lam, độc ác của một số người lớn.

+ Thể hiện sự xót thương của tác giả với những đứa trẻ đang bị cơn đói hành hạ và sự lên án với nhứng người lớn vô tâm, tham lam…   + Làm cho câu văn giàu nhạc điệu, được liên kết chặt chẽ.

 

 

0.25

 

 

0,75

5  

– Phương tiện sử dụng: ngôn ngữ viết.

– Từ ngữ được lựa chọn, trau chuốt giàu hình ảnh: còm cõi, năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới cái ách một ông bạo chúa.

– Câu chuẩn ngữ pháp. Sử dụng các câu dài, nhiều thành phần.

– Tình huống và hoàn cảnh giao tiếp: gián tiếp, chỉ có người viết, người đọc không trực tiếp có mặt.

( Học sinh chỉ cần chỉ ra được một vài đặc điểm vẫn cho điểm tối đa)

1,0

 

6  Gợi ý:

– Không đồng tình.

– Cách ứng xử của người bố trong truyện cho thấy ông ta đã đánh mất tư cách trước con chỉ vì miếng ăn.

– Rút ra bài học về cách ứng xử trong gia đình: ưu tiên cho gia đình, yêu thương, chia sẻ.

– Đảm bảo cấu trúc đoạn văn số câu theo quy định và đảm bảo sự kết nối từ văn học đến cuộc sống. Đáp án mở, chấm dựa trên sự hợp lý, thuyết phục.

 

0,25

0,75

II   VIẾT 4.0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề. Thân bài triển khai được vấn đề. Kết bài khái quát được vấn đề

0.5
  b. Xác định đúng yêu cầu của đề.

Phân tích và đánh giá nét nổi bật trong nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Nam Cao qua đoạn trích: “Trẻ con không được ăn thịt chó”

0.5
  c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

HS có thể viết bài nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm; đảm bảo các yêu cầu sau:

2.5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

 1. Khái quát về tác giả, tác phẩm:

 2. Nét nổi bật trong nghệ thuật kể chuyện của Nam Cao được thể hiện qua những phương diện sau:

Tóm tắt cốt truyện:

Học sinh tóm tắt được cốt truyện à Cốt truyện đơn giản, bất ngờ

Nghệ thuật xây dựng tình huống.

Tình huống xoay quanh bữa ăn của gia đình, người cha mời bạn đến ăn thịt chó, đám trẻ con ngồi dưới bếp chờ đợi, và không tin nổi khi người chị bê mâm xuống chỉ còn bát không.

→ Tình huống đơn giản, bất ngờ, khắc hoạ tính cách của nhân vật qua cách ứng xử, và tình cảm, thông điệp của nhà văn: Thấm thía về cái đói, miếng ăn bào mòn nhân cách của con người.

Nghệ thuật trần thuật: Lời đối thoại của các nhân vật tự nhiên, giản dị, ngôn ngữ đa thanh. Giọng điệu trần thuật thản nhiên, lạnh lùng nhưng chan chứa yêu thương.

 

Ngôi kể và điểm nhìn trong việc khắc họa nhân vật:

++ Ngôi kể thứ ba cho phép người kể chuyện quan sát được tất cả các nhân vật.

++ Người kể chuyện nương theo điểm nhìn của nhân vật người mẹ, điểm nhìn bên ngoài và bên trong

    ( Học sinh xác định, phân tích được ý nghĩa tác dụng của việc kết hợp các điểm nhìn )

+Từ mối liên hệ giữa người kể chuyện trong đoạn trích với nhà văn, cách đặt nhan đề thấy được tư tưởng của tác giả

( Học sinh rút ra được tư tưởng của tác giả gửi gắm qua truyện).

* Lời trần thuật:

+ Lời kể còn có sự kết hợp giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật, sự kết hợp giữa các phương thức tự sự, biểu cảm và miêu tả, khiến cho câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn, giúp khắc họa rõ nét nội tâm nhân vật

+ Nét riêng trong lời kể, giọng điệu của Nam Cao:

  ( Học sinh nhận xét được lời kể và giọng điệu của tác giả)

*Nhân vật

Nhân vật “hắn”- người chồng, người cha

→ Người chồng, người cha tham ăn, thờ ơ, vô tâm, nhân cách dần trở nên tha hoá trước miếng ăn.

Nhân vật “người vợ

→  Tâm trạng tủi hờn, đắng cay trước cách hành xử vô tâm của người chồng. Trái tim người mẹ là tình mẫu tử thiêng liêng và cảm động.

Những đứa trẻ:

→ đáng thương, ám ảnh của cái đói, và thói vô tâm của người lớn làm tội nghiệp con trẻ.

3. Đánh giá giá trị của tác phẩm:

+ Giàu tính nhân văn và giá trị phê phán.

+ Cách kể chuyện mang đặc trưng nghệ thuật tự sự của Nam Cao.

  d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

0.25
  e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. 0.25
Tổng điểm 10.0

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *