Đề HSG con sâu qua sông bằng cách nào , Đôi mắt riêng của nhà văn trong Chí Phèo , Vợ nhặt

Đề thi khối 11
SỞ GD&ĐT THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG THPT LƯƠNG NGỌC QUYẾN

 

Đề thi gồm: 01 trang

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 11

CẤP TRƯỜNG, NĂM HỌC 2023-2024

MÔN THI: NGỮ VĂN 11

Thời gian làm bài: 180 phút

(Không kể thời gian phát đề)

ĐỀ BÀI

Câu 1 (8,0 điểm):

Thầy giáo hỏi: Có một con sâu không biết bơi mà lại muốn qua sông. Các em có biết con sâu qua sông bằng cách nào không?

Học trò đưa ra ba đáp án

– Con sâu bò qua cầu.

Thầy giáo trả lời: “ Không có cầu”

–  Con sâu nằm trên lá, qua sông.

Thầy giáo cười “ Chiếc lá sẽ bị nước cuốn trôi”

–  Con sâu bị chim nuốt vào bụng rồi bay qua sông.

Thầy giáo lắc đầu: “ Vậy sâu chết thì đâu còn ý nghĩa của việc qua sông”

Vậy con sâu qua sông bằng cách nào đây?

Thầy giáo cười rồi nói: “ Con sâu nếu muốn qua sông, thì nó chỉ còn một cách, là biến thành bướm”

Trước khi biến thành bướm, nó phải trải qua một giai đoạn rất khó khăn. Nó ở trong cái kén, ban ngày cũng như ban đêm, không ăn không uống. Nỗi khổ này trải qua một thời gian rất dài. Cuối cùng nó thành con bướm và bay qua sông…

                                                                              (Theo Đại kỷ nguyên)

Suy nghĩ của anh/chị về bài học cuộc sống được gợi từ câu chuyện trên.

Câu 2 (12,0 điểm):

                Đừng nói: Trao cho tôi đề tài

               Hãy nói: Trao cho tôi đôi mắt

                                               (Raxun Gamzatop)

Anh/chị hiểu lời khuyên đó như thế nào? Bằng hiểu biết về tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao) và Vợ nhặt  (Kim Lân), anh/chị hãy chỉ ra những điểm tương đồng của hai tác phẩm và làm sáng tỏ “đôi mắt” riêng của mỗi nhà văn.

 

SỞ GD&ĐT THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG THPT LƯƠNG NGỌC QUYẾN

 

 

 

KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 11

CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2023– 2024

Môn Ngữ văn 11

Thời gian làm bài  180 phút,

(không kể thời gian giao đề)

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

(Bản Hướng dẫn chấm  gồm 04  trang)

Câu 1. (8 điểm)

a.Đảm bảo cấu trúc của bài văn nghị luận: có đủ các phần mở bài, thân bài,

kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận

được vấn đề.

0.5
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0.25
c.Yêu cầu về kiến thức:

Đây là dạng đề mở, học sinh có thể trình bày theo nhiều hướng khác nhau miễn là hợp lí và có sức thuyết phục, trên cơ sở hiểu đúng nội dung câu chuyện và yêu cầu của đề. Bài làm có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau:

6.5
1.Hiểu nội dung câu chuyện: 2.0
– Tình huống đó là: con sâu – con vật nhỏ bé, yếu ớt, chỉ biết bò nhưng có khát vọng lớn lao là muốn qua sông

+ Sông rộng, không cầu, nước chảy xiết: Biểu tượng cho những khó khăn, trở ngại để đạt tới những mục đích lớn lao của cuộc đời.

+ Qua sông: Chỉ hành trình vươn tới ước mơ, thành công của mỗi người.

Tình huống này là vô phương thực hiện.

– Giải đáp của trò:

+ Con sâu đi qua cầu (tương đối dễ dàng nhưng không có cầu)

+ Con sâu nằm trên lá (trôi sang sông nhưng lá bị nước cuốn)

+ Con sâu chịu để cho chim nuốt vào bụng ( chim sẽ chết, nên sự sang sông không còn ý nghĩa)

– Ba phương án thể hiện ba thái độ sống: muốn đạt được mục đích lớn lao, vượt qua những trở ngại, khó khăn trong cuộc đời, nhiều người thường dựa dẫm vào người khác, phó mặc cho may rủi hoặc liều lĩnh bất chấp vượt qua bằng mọi giá kể cả việc đánh mất mình.

– Lời giải của thầy: Con sâu đóng kén => hóa bướm=> bay qua sông: Đó là một quá trình tự chuyển hóa, tự thay đổi để phát triển. Quá trình ấy phải trải qua thời gian dài “ở trong cái kén, ban ngày cũng như ban đêm, không ăn không uống” lâu dài, đau khổ.

 

1.0

 

 

 

 

 

 

Câu chuyện khuyên con người chỉ có thay đổi mình, vượt lên chính mình mới có thể vượt qua gian khổ, đạt tới mục đích lớn lao. Đôi cánh bướm của con sâu là đôi cánh của sự dũng cảm, của bản lĩnh, khát vọng dám đổi thay, thử thách chính mình. Đôi cánh ấy sẽ giúp nó vượt qua mọi khó khăn trở ngại tưởng chừng như không thể của cuộc sống 1.0
2. Bàn bạc, mở rộng 4.5
a) Phân tích các thái độ sống của con người khi đứng trước khó khăn

– Dựa dẫm vào người khác.

– Phó mặc cho may rủi.

– Hủy hoại bản thân, sự trả giá bằng cả mạng sống.

– Thay đổi bản thân mình.

b) Thông điệp

– Trước hết, hãy có khát vọng làm những điều lớn lao: Con sâu muốn sang sông, nó không cam chịu chỉ mãi mãi là con sâu nhỏ bé, chấp nhận cuộc sống quẩn quanh. Con người phải có khát vọng chinh phục, thử sức với những điều lớn lao. Đó sẽ là động lực mạnh mẽ để vượt qua mọi khó khăn trở ngại vốn là điều tất yếu trong cuộc sống, điều tất yếu trên hành trình đến với thành công.

– Không thay đổi được hoàn cảnh hãy thay đổi chính mình: Khi hóa bướm – đôi cánh chính là cây cầu, là chiếc lá, là chú chim để con sâu có thể vượt sông. Qua sông đã khó nhưng thay đổi chính mình còn khó hơn; nỗ lực thành công là cả một quá trình gian khổ cần bền tâm, vững chí.

* Lưu ý: Đối với mỗi luận điểm, thí sinh cần lấy được các dẫn chứng tiêu biểu, có sức thuyết phục để chứng minh.

3.0
– Mở rộng

+ Thay đổi nhưng không được đánh mất mình: Hóa bướm là một chặng trong quá trình phát triển của con sâu, bướm rồi sẽ lại đẻ trứng, trứng hóa thành sâu- lại trở về với chính mình.

+ Phê phán: Những kẻ không có khát khao, ước vọng, không bản lĩnh, không dám đổi thay. Trước khó khăn có người là con cuốn chiếu hễ đụng đến là cuộn mình lại. Có người là con giun suốt đời chỉ biết trốn dưới đất tối không vươn nổi mình lên; Có người như con thiêu thân đốt mình trong cám dỗ cuộc đời…

 
3. Bài học nhận thức và hành động:

– Làm thế nào để có thể vượt mọi trở ngại để đi đến thành công?

+ Tỉnh táo lường trước thực tế khó khăn.

+ Cần hiểu biết về chính mình, hiểu biết tình thế để có thể chủ động trước hoàn cảnh, tìm cách chế ngự hoàn cảnh. Không buông xuôi, dựa vào may rủi, không liều lĩnh bất chấp mọi điều để đạt mục đích…

+ Dám đối mặt, dám đổi thay.

– Cần tôi rèn bản lĩnh sống, khát khao chinh phục từ những việc nhỏ, những cái hàng ngày.

1.5
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận 0.5
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu 0.25

 

* Biểu điểm:

– Điểm 7-8: Bài viết nắm chắc vấn đề, đáp ứng tốt những yêu cầu của kiểu bài nghị luận xã hội, có ý kiến sắc sảo, có kiến thức xã hội phong phú.

– Điểm 5-6: Bài viết hiểu vấn đề, biết làm bài nghị luận xã hội, dẫn chứng sinh động, không mắc lỗi.

– Điểm 3-4: Hiểu vấn đề nhưng lập luận chưa chặt chẽ, ý chưa sáng rõ, còn mắc lỗi về diễn đạt.

– Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề, chưa làm rõ quan niệm, chưa chú ý minh hoạ bằng dẫn chứng cụ thể, diễn đạt còn nhiều lỗi.

– Điểm 0: Không viết gì, hoặc không hiểu gì về đề.

Câu 2 (12.0 điểm)

Yêu cầu về kỹ năng

Hiểu đề, biết cách làm bài nghị luận văn học. Biết giải thích ý kiến, biết phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ nhận định. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trôi chảy, văn viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.

Yêu cầu về kiến thức

Mở bài : Giới thiệu, trích dẫn ý kiến

Thân Bài:

1.      Giải thích ý kiến

– Đề tài:là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chon, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản

– Đôi mắt: tượng trưng cho cái nhìn, sự cảm nhận, đánh giá mang màu sắc riêng, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan độc đáo của người nghệ sĩ.

Cả câu của Raxun Gamzatop thực chất muốn khuyên các nhà văn: cái quyết định tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm, giá trị của tài năng không phải ở đề tài. Vấn đề quan trọng là nhà văn phải có cái nhìn riêng, những khám phá riêng độc đáo về đề tài đó.

2.      Phân tích Chí Phèo (Nam Cao) và Vợ nhặt  (Kim Lân) để làm sáng tỏ ý kiến trên

2.1. Chí Phèo (Nam Cao) và Vợ nhặt  (Kim Lân) – điểm gặp gỡ về phương diện đề tài

– Hai tác phẩm đều có sự gặp gỡ về đề tài: đó là cuộc sống bi thảm của người nông dân Việt Nam. Đây vốn là một đề tài quen thuộccủa văn học Việt Nam trước CMT8 1945.

– Điểm chung của Nam Cao và Kim Lân khi viết về đề tài người nông dân

Phát hiện và cảm thông với nỗi khổ của người người nông dân. Đó là nỗi khổ vì cuộc sống cơ cực mà bị tha hóa, mà đánh mất đi cả lòng tự trọng, thậm chí cả tính người.

+ Khắc hoạ vẻ đẹp và khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người người nông dân.  Đó là khát vọng hoàn lương và sẵn sàng đến với cái chết khi không thể trở về lương thiện (Chí Phèo); là khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng hạnh phúc bất diệt của những con người giầu nghị lực sống và niềm tin ở tương lai (Vợ nhặt)

2.2. Cách nhìn, cách cảm nhận riêng, khám phá riêng của mỗi nhà văn

– Nam Cao với Chí Phèo:

+ Nhà văn  đi sâu vào phản ánh bi kịch thần của Chí Phèo (bị áp bức, bóc lột đến mức bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính, khi thức tỉnh và khao khát hoàn lương cũng không thể được, đành chết trên ngưỡng cửa trở về lương thiện), qua đó phản ánh hiện thực xã hội và lòng thương cảm và trân trọng sâu sắc với những con người bất hạnh.

+ Giọng văn dửng dưng, lạnh lùng mà buồn thương chua chát, chan chứa yêu thương

– Kim Lân với Vợ nhặt:

+ Nhà văn  đi sâu vào phản ánh tình cảnh bi thảm của người nông dân qua nạn đói năm 1945, đồng thời ca ngợi tình người, niềm tin vào tương lai tươi sáng của con người.

+ Giọng văn hóm hỉnh, chân chất, giầu tình cảm với con người

Đánh giá, nâng cao

– Cái nhìn độc đáo, sự khám phá riêng của mỗi nhà văn dù cùng viết về một đề tài chính là bản chất của nghệ thuật đích thực, là yêu cầu nghiệt ngã của sáng tạo văn chương mà chỉ những tài năng chân chính mới đủ sức vượt qua.

– Những cảm nhận mới mẻ của Nam Cao và Kim Lân đã góp phần làm phong phú vẻ đẹp của hình tượng người nông dân Việt Nam trong văn học hiện đại Việt Nam

– Ý kiến của Raxun Gamzatop là bài học đối với người nghệ sĩ, đồng thời là gợi ý đối với những người đọc chân chính của văn chương: khi đọc một tác phẩm, không nên chỉ chạy theo “chủ nghĩa đề tài” mà cần có ý thức phát hiện cái nhìn riêng của từng tác giả.

 

 

0.5

 

 

 

0.5

 

 

 

2.0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.5

 

 

 

 

 

 2.0

 

 

 

* Biểu điểm:

– Điểm 11 – 12: Đáp ứng tốt các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, có thể còn mắc một vài lỗi nhỏ không đáng kể. Khuyến khích những bài viết sắc sảo, sáng tạo, thuyết phục, tạo ấn tượng riêng.

– Điểm 9- 10: Đáp ứng được khá tốt các yêu cầu, có thể còn mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 7- 8: Đáp ứng khoảng 2/3 các yêu cầu, còn mắc một số lỗi về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 5-6: Đáp ứng khoảng ½ các yêu cầu, lập luận chưa chạt chẽ, thuyết phục, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

– Điểm 3- 4: Chưa hiểu rõ nội dung yêu cầu cảu đề, thiếu nhiều ý, phân tích chứng minh còn chung chung không đúng trọng tâm, mắc nhiều lỗi về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 1- 2: Không hiểu đề, trình bày quá sơ sài, diễn đạt lủng củng, tối nghĩa, mắc quá nhiều lỗi.

– Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề hoàn toàn.

Lưu ý: Giám khảo linh hoạt vận dụng biểu điểm, có thể thưởng điểm cho những bài viết có sáng tạo khi tổng điểm toàn bài chưa đạt tối đa. Điểm toàn bài cho lẻ đến 0,25

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *