| SỞ GD & ĐT …
TRƯỜNG THPT …. (Đề thi gồm 02 trang) |
ĐỀ THI KHẢO SÁT HỌC SINH GIỎI LỚP 11 – LẦN 3
NĂM HỌC: 2023 -2024 MÔN: NGỮ VĂN (Thời gian làm bài:150 phút, không kể thời gian phát đề) |
ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
( Trích Vội vàng – Xuân Diệu . NXB Đời nay, Hà Nội, 1938)
Chú thích
Xuân Diệu (1916 – 1985), còn có bút danh là Trảo Nha, tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu. Ông xuất han trong một gia đình nhà nho, quê ở làng Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm hứng mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ, cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của mùa xuân, của tình yêu và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết.
Xuân Diệu là cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực của văn học Việt nam hiện đại. Ông xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn.
Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.
Trả lời các câu hỏi/thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chủ thể trữ tình của đoạn thơ xuất hiện trực tiếp qua từ ngữ nào?
Câu 2. Nêu tác dụng của điệp từ “này đây” được sử dụng trong đoạn thơ
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si”
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Câu 4. Anh/ chị có đồng tình với quan điểm của tác giả gửi gắm trong câu thơ: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”
Câu 5. Đoạn thơ gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về giá trị của thời gian? (Trả lời bằng một đoạn văn khoảng 5 -7 dòng)
VIẾT
Câu 1. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) để trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để có thể lắng nghe?”.
Câu 2.
Thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người bằng ngôn ngữ cô đọng, gợi cảm giàu hình ảnh và nhạc điệu.
(Trích SGK Ngữ văn 11- Tập một, NXB GD, năm 2016, tr 136).
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua bài thơ “Vội vàng” – Xuân Diệu
HƯỚNG DẪN CHẤM
(Hướng dẫn chấm gồm 03 trang)
YÊU CẦU CHUNG
– Thí sinh có kiến thức văn học và xã hội chính xác, sâu rộng; kĩ năng đọc hiểu, làm văn tốt. Bố cục bài làm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh và cảm xúc.
– Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng chứ không định lượng. Giám khảo cần hết sức linh hoạt khi vận dụng. Cần đánh giá bài làm của thí sinh trong tính chỉnh thể, không đếm ý cho điểm; trân trọng, khuyến khích những bài có cảm xúc và sáng tạo, có ý kiến và giọng điệu riêng; chấp nhận các cách kiến giải khác nhưng phải hợp lí và có sức thuyết phục.
– Việc chi tiết hoá điểm số của các câu (nếu có) trong Hướng dẫn chấm phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm mỗi câu và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
– Bài thi được chấm theo thang điểm 20.
YÊU CẦU CỤ THỂ
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| I | ĐỌC HIỂU | 6,0 | |
|
|
1 | Chủ thể trữ tình của đoạn thơ xuất hiện trực tiếp qua từ: tôi, ta
Hướng dẫn chấm: – Thí sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm. – Thí sinh chỉ ra được 1 từ trong đáp án: 0,25 điểm. – Thí sinh trả lời không đúng: không cho điểm. |
0,5 |
| 2 | Điệp từ “này đây”
+ Tạo nhịp điệu, làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ + Gợi hình dung về sự hiện hữu ngay trước mắt, tại thời điểm nói một thế giới tự nhiên tươi đẹp và tràn đầy sức sống + Diễn tả cảm xúc của nhân vật trữ tình: đắm say, hân hoan, reo vui sung sướng trước sự giàu có của thiên nhiên , tạo vật. Hướng dẫn chấm: – Thí sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm. – Thí sinh chỉ nêu được tác dụng về mặt nội dung: 0,5 điểm. – Thí sinh chỉ nêu tác dụng về mặt hình thức: 0,25 điểm. – Thí sinh trả lời không đúng: không cho điểm. |
1,0 | |
| 3 | Ý nghĩa của hai câu thơ:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già. Thí sinh có thể có nhiều cách lí giải, cảm nhận riêng về ý nghĩa của câu thơ nhưng cần đảm bảo tính hợp lí, biết đặt câu thơ trong cả văn bản để lí giải. Sau đây là gợi ý: – xuân: mùa xuân, thời gian, tuổi trẻ – Nội dung của hai câu thơ: + thời gian luôn chảy trôi, một đi không trở lại, trong cái tươi thắm của hiện tại đã chất chứa sự tàn phai của tương lai. + thái độ sợ hãi, nuối tiếc trước bước đi của thời gian + là lời khuyên cần biết trân trọng thời gian, đặc biệt là những phút giây hiện tại Hướng dẫn chấm: – Thí sinh trả lời tương tự như đáp án: 1,5 điểm. – Thí sinh chỉ nêu ý nghĩa của cả câu: 1,0 điểm – Thí sinh trả lời chạm ý, diễn đạt tương đối tốt: 0,75 điểm – Thí sinh chỉ giải thích nghĩa của từ “xuân” hoặc trả lời có nội dung phù hợp nhưng diễn đạt chưa tốt: 0,5 điểm. – Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: không cho điểm. |
1,5 | |
| 4 | Anh/ chị có đồng tình với quan điểm của tác giả gửi gắm trong câu thơ: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”
Thí sinh bộc lộ quan điểm cá nhân, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật, lí giải thuyết phục. Có thể theo hướng: – Bày tỏ quan điểm: đồng tình/ không đồng tình/ không hoàn toàn đồng tình. – Lí giải: + Đồng tình: thời gian là một dòng chảy trôi tuyến tính, một đi không trở lại, mỗi phút trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Bởi vậy mỗi người cần phải khẩn trương, tích cực, tăng cường độ sống để tận hưởng trọn vẹn cuộc sống. + Không đồng tình: trong nhịp sống hối hả, xô bồ, đôi khi con người cần lắng lòng, “sống chậm” để tận hưởng và hiểu hết ý nghĩa của cuộc sống. + Không hoàn toàn đồng tình: cần lí giải kết hợp cả 2 nội dung trên Hướng dẫn chấm: – Thí sinh nêu được quan điểm và lí giải thuyết phục: 1,5 điểm. – Thí sinh chỉ nêu quan điểm, không lí giải: 0,5 điểm. – Thí sinh không nêu quan điểm nhưng lí giải thuyết phục: 0,5điểm – Thí sinh không trả lời hoặc trả lời không đúng: không cho điểm. |
1,5 | |
| 5 | Suy nghĩ về giá trị của thời gian:
Thí sinh có thể đưa ra nhiều giải pháp khác nhau nhưng cần đảm bảo tính thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là gợi ý: – Thời gian vận hành theo quy luật của tự nhiên khách quan, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. – Thời gian cho ta tất cả nhưng cũng lấy đi của ta tất cả. ® Vì vậy, chúng ta cần biết quý trọng thời gian, sống trọn vẹn và có ý nghĩa trong từng khoảnh khắc. Hướng dẫn chấm: – Thí sinh bày tỏ được suy nghĩ một cách hợp lí và thuyết phục: 1,5 điểm. – Thí sinh trả lời chung chung không rõ ý: 0,75 điểm. – Thí sinh không trả lời hoặc trả lời không đúng: không cho điểm. |
1,5 | |
| II | VIẾT | 14,0 | |
| Câu 1. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) để trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để có thể lắng nghe?”. | 4,0 | ||
| a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, bố cục của đoạn văn nghị luận xã hội | 0,5 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận | 0.5 | ||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
HS lựa chọn thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ luận đề. Có thể theo hướng sau: * Giải thích: nghe là sử dụng thính giác để tiếp nhận âm thanh; lắng nghe thể hiện sự tôn trọng, yêu thương, thấu hiểu và đồng cảm với người nói. * Bàn luận: + Để có thể lắng nghe, trước hết ta cần quan tâm và tôn trọng người đối thoại: tập trung sự chú ý vào ngôn ngữ nói cũng như điệu bộ, cử chỉ của người nói; không ngắt lời một cách tùy tiện để người nói có thể trình bày rõ quan điểm của mình. + Lắng nghe là để thấu hiểu nên chúng ta cần trang bị cho mình một vốn kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực trong cuộc sống, sự hiểu biết về tâm lí và tính cách con người…Chỉ có vậy ta mới phân biệt được đúng sai, mới biết đâu là lời nói phải để nghe theo. + Để lắng nghe ta còn cần có sự khiêm tốn, bao dung, yêu thương và bản lĩnh để có thể nghe những ý kiến trái ngược với quan điểm của mình, để đánh giá một cách khách quan về một con người hoặc một sự việc nào đó. * Bài học nhận thức và hành động: Lắng nghe là một phương tiện hữu hiệu để tạo nên sự kết nối chặt chẽ giữa các cá nhân. Bởi vậy, ta luôn cần lắng nghe với tất cả trí tuệ và sự yêu thương của mình. Hướng dẫn chấm: – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận,sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của đoạn văn (1,5 điểm) – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, nhưng sắp xếp được hệ thống ý chưa thật hợp lí theo đặc điểm bố cục của đoạn văn (1,0- 1,25 điểm) – Xác định chưa đầy đủ các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận,sắp xếp hệ thống ý chưa thật hợp lí theo đặc điểm bố cục của đoạn văn. (0.75 điểm) |
1,5 | ||
| d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: …… – Trình bày rõ quan điểm, hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng. – Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. |
1,0 | ||
| e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0,5
|
||
| Câu 2 | Thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người bằng ngôn ngữ cô đọng, gợi cảm giàu hình ảnh và nhạc điệu. (Trích SGK Ngữ văn 11- Tập một, NXB GD, năm 2016, tr 136).
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua bài thơ “Vội vàng” – Xuân Diệu
|
||
| a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Bài nghị luận văn học có định hướng về một tác phẩm văn học. | 0,5 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: cảm xúc và vẻ đẹp của ngôn ngữ trong “Vội vàng” | 1,0 | ||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết:
HS vận dụng các thao tác lập luận để triển khai vấn đề thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, có sức thuyết phục. Có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một gợi ý: *Giải thích – Thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người: đề cập đến phương diện nội dung của thơ. Cốt lõi của thơ là cảm xúc, gắn với chiều sâu thế giới nội tâm của con người nên tác phẩm thơ là những rung động tâm hồn, suy ngẫm sâu xa, những trạng thái tâm lí của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc sống con người. – Ngôn ngữ cô đọng, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu: đề cập đến phương diện nghệ thuật của thơ. Ngôn ngữ thơ đòi hỏi sự chắt lọc, gọt giũa chau chuốt tỉ mỉ; nhạc điệu của thơ không chỉ là tính nhạc trầm bổng do cách phối thanh mà còn là nhạc điệu của tâm hồn. – Nhận định nói lên đặc trưng của thơ là diễn tả đời sống nội tâm phong phú, sâu sắc của con người bằng ngôn ngữ, hình ảnh,… chắt lọc, biểu cảm, hấp dẫn. *Chứng minh ý kiến qua bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu *Những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật trữ tình: – Bao trùm bài thơ là mạch cảm xúc sôi nổi, mãnh liệt tuôn trào với tình yêu cuộc sống đến thiết tha cuồng nhiệt. + Bằng cặp mắt xanh non biếc rờn, Xuân Diệu nhìn thế giới như một thiên đường trên mặt đất với cảm xúc sung sướng, say mê, rạo rực, đắm say( Của ong bướm… cặp môi gần). + Thi sĩ băn khoăn, tiếc nuối trước thời gian tuyến tính một đi không trở lại khi tuổi xuân đời người hữu hạn(Xuân đương tới…chiều hôm). + Thi sĩ muốn tắt nắng buộc gió để lưu mãi hương sắc cuộc sống trần gian( 4 câu đầu). + Một tiếng lòng tha thiết cuồng nhiệt khát khao giao cảm với đời, tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp cuộc sống trần thế( Ta muốn…cắn vào ngươi). *Ngôn ngữ thơ cô đọng, gợi cảm, giàu hình ảnh, nhạc điệu: Tác giả lựa chọn được hình thức nghệ thuật phù hợp để bộc lộ cảm xúc. – Ngôn ngữ thơ vừa chính xác, vừa mới mẻ táo bạo, sử dụng nhiều động từ mạnh, các tính từ miêu tả kết hợp các biện pháp tu từ so sánh, điệp từ, liệt kê, bút pháp tương giao. – Hình ảnh thơ táo bạo, mới lạ, gợi cảm (ánh sáng hàng mi, tháng giêng ngon như một cặp môi gần…) – Thể thơ tự do với các dòng thơ dài ngắn không đều, nhịp thơ thay đổi linh hoạt, giọng điệu đắm say, sôi nổi mang âm hưởng của thơ trữ tình điệu nói; cấu trúc theo lối triết luận, vừa có sự hấp dẫn của cảm xúc mãnh liệt, cháy bỏng vừa logic, chặt chẽ phù hợp diễn tả cảm xúc sôi nổi dâng trào của thi sĩ. *Đánh giá, nâng cao vấn đề – Nhận định trên đã chỉ ra đặc trưng của thể loại thơ ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Cụ thể tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người trong thơ phải được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật độc đáo. – Vội vàng là minh chứng tiêu biểu cho qua điểm Thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người bằng ngôn ngữ cô đọng, gợi cảm giàu hình ảnh và nhạc điệu. * Bài học đối với người sáng tác và người tiếp nhận: + Đối với người sáng tác: Càn phải có cái Tài và cái Tâm, phải dày công sáng tạo trau chuốt ngôn từ, chọn lọc hình ảnh; ..phải có những rung động tinh tế, những cảm xúc, suy nghĩ chân thành, gắn bó sâu sắc với cuộc đời, con người để tác phẩm thơ thật sự đặc sắc về nghệ thuật và sâu sắc về nội dung tư tưởng. + Đối với người đọc: Hướng tới Chân- Thiện- Mĩ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm trong sáng, trí tuệ phong phú thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ để cảm nhận được cảm xúc, tư tưởng của tác giả trong tác phẩm, từ đó trở thành bạn đọc đồng sáng tạo với người sáng tác. |
3,0 | ||
| d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Xác định được các ý chính của bài viết – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. – Triển khai được đầy đủ các luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. – Biết lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, biết lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp để phân tích làm sáng tỏ luận điểm. – Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. |
4,5 | ||
| e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. | 1,0 | ||
| ĐIỂM TOÀN BÀI THI I + II = 20,0 điểm | |||
*Lưu ý toàn bài:
– Giám khảo tránh đếm ý cho điểm, cân nhắc toàn bài để đánh giá.
– Những cách triển khai hợp lí, kiến giải riêng thuyết phục đều được chấp nhận và khuyến khích những bài có ý tưởng sáng tạo.
– Thang điểm trên đây là điểm tối đa cho mỗi phần. Nếu thí sinh chưa đáp ứng tốt những yêu cầu về kĩ năng thì không đạt được điểm tối đa.