BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ GIỮA KÌ II
MÔN NGỮ VĂN 10. NĂM HỌC 2023-2024
MA TRẬN
| TT | Thành phần | Nội dung | Số câu | Cấp độ tư duy | ||||||
| Nhận biết | Thông hiểu | Vận dụng | Tổng | |||||||
| Số câu | Tỉ lệ | Số câu | Tỉ lệ | Số câu | Tỉ lệ | |||||
| I | ĐỌC HIỂU | Văn bản đọc hiểu | 4 | 2 | 20% | 1 | 10% | 1 | 10% | 40% |
| II | VIẾT | Nghị luận xã hội | 1 | 5% | 10% | 5% | 20% | |||
| Nghị luận văn học | 1 | 7,5% | 10% | 22,5% | 40% | |||||
| Tỉ lệ | 32,5% | 30% | 37,5% | 100% | ||||||
| Nội dung | 6 | 100% | ||||||||
- BẢNG ĐẶC TẢ
| TT | Kĩ năng | Đơn vị kiến thức / Kĩ năng | Mức độ đánh giá | Số lượng câu hỏi theo mức độ nhận thức | Tổng | ||
| Nhận biết | Thông hiểu | Vận dụng | |||||
| I | Đọc hiểu
|
Văn bản văn học
Văn bản nghị luận
|
Nhận biết: – Xác định được phương thức biểu đạt, thể loại của văn bản. – Xác định được đề tài; chi tiết, hình ảnh nghệ thuật đặc sắc của văn bản/đoạn trích. – Chỉ ra được thông tin trong văn bản/đoạn trích. Thông hiểu: – Hiểu được đặc sắc về nội dung của văn bản/đoạn trích. – Hiểu được đặc sắc về nghệ thuật của văn bản. Vận dụng: – Vận dụng kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống, hiểu biết về văn học để nhận xét, đánh giá ý nghĩa, giá trị của văn bản, hoặc vấn đề rút ra từ văn bản. |
2 câu | 1 câu | 1 câu | 4 |
| II | Viết
|
Viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề xã hội.
|
Nhận biết:
– Xác định được yêu cầu về nội dung và hình thức của đoạn văn nghị luận. – Mô tả được vấn đề xã hội và những dấu hiệu, biểu hiện của vấn đề xã hội trong bài viết. – Xác định rõ được mục đích, đối tượng nghị luận. Thông hiểu: – Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm phù hợp. – Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. – Đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn nghị luận; đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Vận dụng: – Đánh giá được ý nghĩa, ảnh hưởng của vấn đề đối với con người, xã hội. – Nêu được những bài học, những đề nghị, khuyến nghị rút ra từ vấn đề bàn luận. Vận dụng cao: – Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm,… để tăng sức thuyết phục cho đoạn văn. – Thể hiện rõ quan điểm, cá tính trong đoạn văn. |
1 | |||
| Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một khía cạnh của văn bản truyện. | Nhận biết:
– Xác định được yêu cầu về nội dung và hình thức của bài văn nghị luận. – Nêu được thông tin về tác giả, tác phẩm. – Nêu hoàn cảnh ra đởi của đoạn trích… Thông hiểu: – Trình bày được những giá trị về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm theo yêu cầu của đề bài. Vận dụng: – Vận dụng các kỹ năng tạo lập văn bản: kiến thức đã học về truyện để viết bài nghị luận đáp ứng yêu cầu của đề bài. Vận dụng cao: – Liên hệ, so sánh với các tác phẩm khác để đánh giá làm nổi bật vấn đề nghị luận; vận dụng kiến thức lý luận văn học để có những phát hiện sâu sắc mới mẻ về vấn đề nghị luận. – Diễn đạt sáng tạo, giàu hình ảnh, có giọng điệu riêng. – Đánh giá được vai trò, ý nghĩa của thông điệp trong truyện đối với cuộc sống, xã hội hiện tại. |
1 | |||||
| Tổng | 2 | 1 | 3 | 6 | |||
| Tỉ lệ % | 32,5% | 30% | 37,5% | ||||
| Tỉ lệ chung | 62,5% | 37,5% | |||||
III. ĐỀ BÀI
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Nhiều lúc mình cũng không ngờ rằng mình sẽ đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá(…). Hai mươi tám ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình… Mình đã khóc, nước mắt giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu không khí trong lành trên trường Tổng hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe, đã cúi đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một điều giản dị: Bài Quốc ca của ta, của ta!.. Khóc, không phải vì hèn yếu, không phải vì buồn bã, mà vì xúc động. Vì buổi chia tay này thiêng liêng quá. Những người bạn thân yêu nhất của mình không thể tiễn mình đi được. Và bàn tay ấy, và đôi mắt ấy, giọng nói ấy… Lên xe rồi, xe nổ máy. Xe Việt Nam sản xuất, tiếng động cơ như tiếng tim mình vậy.”
(Trích Mãi mãi tuổi hai mươi – Nhật kí của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, NXB Thanh niên, 2005)
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2: Hãy chỉ ra “những điều không ngờ” được tác giả nói đến trong đoạn trích?
Câu 3: Nêu tác dụng của phép điệp được sử dụng trong câu văn: Mình đã khóc, nước mắt giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu không khí trong lành trên trường Tổng hợp..
Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan điểm “viết nhật kí không còn cần thiết trong cuộc sống hôm nay” không ? Vì sao?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.(2 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (150 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh chị về hậu quả của chiến tranh.
Câu 2.(4 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:
Bà nội tôi là kho chuyện đời xưa, mỗi đêm một chuyện cho đàn cháu nội, cháu ngoại, lũ nhỏ vây quanh bà trên bộ ván ngựa gỗ giữa nhà trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu.
Chuyện này không phải là chuyện đời xưa. Chuyện của nhà mình nhưng lúc đó bà còn trẻ, tụi con chưa có, vậy cũng là chuyện đời xưa phải không? Đêm ấy, bà kể:
Ông tôi có nuôi một con nhồng. Con nhồng đẹp lạ lắm. Nó như một cô công chúa khoác chiếc áo choàng đen, ấy là bộ lông mượt mà của nó, từ mí mắt kéo đến cổ nó là một đường vàng hình lưỡi câu. Viền quanh cổ là một đường mầu trắng, như công chúa quấn qua cổ chiếc khăn bằng lông cừu, mỏ vàng và đôi chân cũng vàng. Ông tôi vốn là một thợ mộc, cho nên cái lồng của nó như một cái lâu đài. Con nhồng lúc nào cũng vui tươi, nhảy nhót trong chiếc lồng lộng lẫy treo trước hiên nhà. Vừa đẹp, lại vừa biết nói, nó là niềm vui của cả xóm, không chỉ cho trẻ con mà cho cả người lớn. Thấy có người thoáng qua, nó cất tiếng: “Chào khách”. Khi người dừng lại trước mặt nó, nó hỏi: “Khỏe không”. Ai hỏi gì thì nó dạ. Nó bắt chước giọng ông, nó gọi bà: “Em ơi, em”. Nó bắt chước giọng bà, nó gọi ông: “Anh ơi, anh”. Trong nhà đang nói chuyện, bỗng chợt nghe tiếng cười, nó cười: “Khậc khậc” y như giọng cười của ông. Thỉnh thoảng nó lại cất tiếng: “Thôi, thôi thôi” nghe như lời can gián thiết tha của một cô gái.
– Khách! – Ngồi trong nhà nghe nó nói, biết là có khách sắp vào nhà.
Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt. Thò mỏ gắp trái ớt, nó mừng nó nhảy.
Trong nhà ai cũng dạy nó tiếng nói lịch sự, lễ phép. Nhưng hình như bấy nhiêu tiếng đó, nghe hoài cũng nhàm, bớt vui. Chẳng biết đứa nhỏ nào cắc cớ dạy thêm cho nó vài tiếng chửi cục cằn: “Đồ đểu, cút, cút đi”.
Ngày đầu, nghe những tiếng lạ lùng đó, bọn nhỏ vỗ tay và nó được nhiều ớt hơn mọi ngày. Nhỏ vui đã đành, người lớn cũng vui… nghe nó chưởi “đồ đểu” người nghe không nghĩ là mình đểu nên chẳng ai giận, nghe nó bảo “cút, cút” người ta không cút mà cười và lại thưởng cho nó ớt ngon hơn, nhiều hơn. Nó nói riết thành quen không ai để ý nó quên tiếng hót từ lúc nào.
Bỗng một hôm có một chiếc xe hơi đậu lại trước nhà. Quan huyện từ trong xe bước ra. Một người to lớn bệ vệ trong bộ đồ tây trắng, cà vạt đỏ, giày đen. Quan huyện đến để đặt ông đóng nhái bộ salon thời Louis. Đã là quan thì phải oai quyền, trước mặt ai không chào không hỏi.
Quan huyện vào tới cửa thì con nhồng cất tiếng:
– Đồ đểu!
Quan huyện giật mình:
– Đồ đểu! Đồ đểu!
Thấy quan huyện không thưởng cho nó trái ớt, nó lại cất tiếng:
– Đồ đểu! Đồ đểu!
Quan huyện trợn tròn hai con mắt. Ông tôi thấy vậy sợ điếng, vội cúi rạp mình rước quan vào. Ông liếc nhìn bà. Hiểu ý ông, bà rối rít mời quan ngồi, rót nước mời quan uống.
Đang chào đang hỏi khách, bà bỗng nghe bên ngoài có tiếng đánh “bốp” một cái. Bà bước ra, bà thấy con chim bị ông đập vào cây cột, nát đầu. Trên thân cột còn một đốm máu bê bết, còn con nhồng thì nằm dưới đất như một miếng giẻ rách đen. Chẳng biết ông sợ hay ông giận, bà chỉ nghe ông lẩm bẩm:
– Không! Nó bảo “cút đi” thì nhà này chỉ có chết.
Thương con nhồng, bà tôi quỳ xuống trước cái xác của nó. Chẳng biết lúc ấy bà tôi đau đớn thế nào, bây giờ trong ánh đèn dầu, tôi thấy hai giọt nước mắt của bà. Và sau câu chuyện bao giờ bà cũng rút lời răn dạy:
– Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!
(Con Chim Quên Tiếng Hót, Nguyễn Quang Sáng)
- HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| I | ĐỌC HIỂU | 4,0 | |
| 1 | Phương thức biểu đạt chính là: biểu cảm. | 1,0 | |
| 2 | “những điều không ngờ” được tác giả nói đến trong đoạn trích:
– Không ngờ mình đã đến đây. – Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá … |
1,0 | |
| 3 | – Điệp từ được sử dụng qua đoạn trích là: khi
– Tác dụng của phép điệp từ: + Sinh động, hấp dẫn làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sựu diễn đạt của câu văn. +Nhấn mạnh thời điểm thiêng liêng nhất đối với người viết, trong không khí buổi lễ tiễn quân đầy xúc động, tự hào và đáng nhớ. Hướng dẫn chấm: – Trả lời được đầy đủ như đáp án: 1,0 điểm – Trả lời được 1 ý: 0,25 điểm – Trả lời được 2 ý: 0,75 điểm – Trả lời được 3 ý: 1,0 điểm |
1,0 | |
| 4 | Học sinh được đua ra quan điểm cá nhân, sau đó dùng lập luận để bảo vệ quan điểm của mình.
– Đồng ý vì viết nhật ký là một cách để lưu lại những ký ức, kỷ niệm đẹp mà bất cứ ai, dù sống trong thời đại nào cũng cần; một cách lưu giữ ký ức giản dị, chân thật và giàu cảm xúc;… – Không đồng ý vì: thời đại 4.0 có nhiều cách để lưu giữ ký ức, kỷ niệm sống động hơn, thuận tiện hơn… Hướng dẫn chấm: – Trả lời được đầy đủ như đáp án: 1,0 điểm |
1,0 | |
| II | LÀM VĂN | 6,0 | |
| Câu 1 | Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh chị về hậu quả của chiến tranh. | 2,0 | |
| a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
Thí sinh viết một đoạn văn với dung lượng khoảng 150 chữ, có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hay song hành. |
0,25 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: bày tỏ suy nghĩ của anh chị về hậu quả của chiến tranh. |
0,25 | ||
| c. Đề xuất hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, dưới đây là một số gợi ý: · – Hậu quả của chiến tranh: Thương vong bên ngoài: Hàng nghìn người đã ngã xuống vì chiến tranh, và để lại những con người sống sót nhưng với di chứng như thương tật, bệnh nặng từ chất độc màu da cam. · Nỗi đau bên trong: Ám ảnh về cái chết, mất mát người thân, gia đình bị ly tán, dư chấn thời hậu chiến…. |
0,75 | ||
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận – Trình bày quan điểm và hệ thống các ý rõ ràng. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lý lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và bằng chứng. |
0,25 | ||
| đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 | ||
| e. Sáng tạo
Thí sinh có cách sáng tạo trên các phương diện hình thức, dùng từ, diễn đạt, những suy nghĩ, kiến giải sâu sắc,mới mẻ, độc đáo. |
0,25 | ||
| Câu 2 | Phân tích, đánh giá nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Con chim quên tiếng hót. | 4,0 | |
| a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. |
0,5 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Phân tích, đánh giá nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Con chim quên tiếng hót.. |
0,5 | ||
| c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, phân tích, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Mở bài: Nêu được tên truyện, tác giả, giới thiệu vấn đề cần bàn luận. * Thân bài: – Về nội dung: + Phần đầu truyện, người bà kể về con nhồng biết hót, biết nói tiếng người, lại nói toàn những điều lịch sự khiến từ trẻ con đến người lớn, từ người nhà đến người ngoài ai nấy đều yêu mến con vật này… + Phần sau câu chuyện, người bà kể lại sự việc đau lòng đến với con vật quý. Nó học được cách nói cục cằn từ lũ trẻ mà quên mất tiếng hót và những lời lịch sự. Chưa dừng lại ở đó, tác giả đã tạo nên tình huống bất ngờ… Quan huyện ghé thăm… + Câu chuyện kết thúc bằng lời dạy các cháu của người bà: Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!” Đó cũng là bài học cho mỗi chúng ta: Nếu chúng ta không hiểu chuyện mà nói theo lời người khác, sẽ để lại hậu quả khôn lường – Về nghệ thuật: + Cốt truyện đơn giản: người bà kể cho các cháu nghe về con nhồng – con vật vốn được cả nhà yêu quý vì tiếng hót hay và giỏi nhại tiếng người, nhưng sau đó, con nhồng phải chết uổng vì nói điều không nên nói. + Truyện kể bằng ngôi kể thứ ba, lời kể tự nhiên, gần gũi; cách kể chuyện vừa hiện đại, vừa mang sắc thái truyện ngụ ngôn, cổ tích; sự việc không quá nhiều, kịch tính cũng không quá gay gắt, chi tiết không quá bất ngờ… tất cả cứ nhẹ nhàng, nhưng lại thấm thía, sâu sắc… * Đánh giá chung: Câu chuyện giản đơn mà sâu sắc đã tạo sức sống lâu bền cho tác phẩm, giúp tác phẩm trở nên hấp dẫn, không chỉ với lứa tuổi thiếu nhi mà còn có ý nghĩa với cả người lớn. Bài học nhân văn từ câu chuyện đã thực hiện được sứ mệnh của văn chương: văn học là nhân học, văn học góp phần định hướng nhân cách, hình thành những phẩm chất, lối sống tốt đẹp cho con người… (Lưu ý: Hs có thể diễn đạt khác hoặc lời đánh giá chưa mang tính khái quát nhưng có ý thức đánh giá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm: cho 0,25 điểm) Hướng dẫn chấm: – Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 2,0 điểm – 2,5 điểm. – Phân tích đầy đủ nhưng có ý chưa sâu hoặc phân tích sâu nhưng chưa thật đầy đủ: 1,25 điểm – 1,75 điểm. – Phân tích chưa đầy đủ hoặc chung chung, sơ sài: 0,25 điểm – 1,0 điểm. |
2,0 | ||
| d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0,5 | ||
| e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: Học sinh biết vận dụng thực tiễn đời sống để làm nổi bật vấn đề nghị luận; văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc. – Đáp ứng được 2 yêu cầu trở lên: 1,0điểm. – Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,5 điểm. |
0,5 | ||
| Tổng điểm | 10,0 | ||