DỰ ÁN 12: ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI 2022-2023
ĐỀ BÀI
Câu 1 (4,0 điểm):
“Chậm rì, chậm rì
Kìa con ốc nhỏ
Trèo núi Phu-gi* (Fuji)”
(Ít-sa*- Issa, Nhật Chiêu dịch, Ba nghìn thế giới thơm, Sđd, tr.385)
Anh/chị hãy bình luận về bài học được rút ra từ bài thơ hai-cư của Ít-sa.
*Phu-gi: ngọn núi cao nhất Nhật Bản, ở Việt Nam thường gọi theo âm Hán Việt là Phú Sĩ.
*Ít-sa là nhà thơ kiêm tu sĩ Phật giáo. Ông còn là họa sĩ tài ba nổi tiếng với những bức tranh có đề các bài thơ hai-cư do chính ông sáng tác.
Câu 2 (6,0 điểm):
“Tác phẩm không là một cái gì được đóng khung: nó mở ra những chân trời. Tác phẩm không là sự sống đã đạt tới cùng đích: nó là sự đang trở thành không ngừng nghỉ” (Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, NXB Hoàng Đông Phương, 1968).
Bằng trải nghiệm văn học của mình, anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| CÂU | Ý | YÊU CẦU CẦN ĐẠT | ĐIỂM |
| 1 | 1 | Hình thức, kỹ năng | 1,0 |
| Đáp ứng yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội | |||
| Trình bày vấn đề một cách khoa học, hấp dẫn | |||
| 2 | Nội dung | 7,0 | |
| 2.1 | Giải thích
– Hình tượng “con ốc nhỏ”: sinh vật nhỏ bé, bình thường, chậm chạp. – Hình ảnh núi Fuji: to lớn, kì vĩ |
1,0 | |
| – Bài học được rút ra từ hành trình “chậm rì” của con ốc:
+ Ý chí, tinh thần nghị lực, không được khuất phục khó khăn, thử thách. + Dám theo đuổi và kiên trì thực hiện mơ ước của riêng mình. + Ung dung, tự tại theo đuổi hành trình của riêng mình để đạt tới sự tự do trong tinh thần
|
|||
| 2.2 | Bàn luận
– Trong cuộc sống, những khó khăn, thử thách hiện ra như một khối rubic nhiều màu, mỗi lần thay đổi là một lần khó khăn mới xuất hiện đòi hỏi con người luôn phải có sự kiên trì, bền bỉ và ý chí nghị lực để cho thể chinh phục những thử thách lớn lao, những đỉnh núi cao, những con đường dài tưởng như không có đích. – Thái độ kiên trì và bền bỉ chính là chìa khóa để thực hiện ước mơ, chỉ cần con người không bỏ cuộc giữa chừng, không chán nản hoặc buông xuôi thì kết quả nhận được sẽ xứng đáng với những gì họ dụng công. + Với những người còn hạn chế về năng lực hoặc hạn chế về điều kiện thực hiện mục tiêu thì sự tự tin và lòng lạc quan là yếu tố quan trọng. Chính sự tự tin sẽ thúc đẩy, tiếp thêm sức mạnh và khích lệ con người. + Trong quá trình nỗ lực theo đuổi một mục đích, con người có thể nhận ra sức mạnh tiềm ẩn từ bên trong của mình, có thể thực hiện được việc tưởng như quá sức, đó cũng là cơ hội để họ thấy được giá trị và sức mạnh của bản thân. + Mọi thành công mà con người đạt được bằng chính sự nỗ lực của mình đều cao quý đáng trân trọng như nhau.
|
5,0 | |
| 2.3 | Liên hệ, mở rộng | 2,0 | |
| – Mỗi người (đặc biệt là tuổi trẻ) hãy dám trải nghiệm cuộc sống để tăng cường cho bản thân chất sống, vốn sống; hãy phát huy hết năng lực của bản thân bằng cách sống hết mình với hiện tại, với những dự định của mình. – Con người không nên tự ti với xuất phải điểm của mình mà phải luôn lấy đó làm mục tiêu để thay đổi và hướng đến những điều tốt đẹp. – Trong quá trình thực hiện ước mơ, theo đuổi đam mê, con người cũng cần biết phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để tự hoàn thiện mình.
|
|||
| Tổng điểm câu 1 | 8,0 | ||
| 2 | 1 | Hình thức, kĩ năng | 1,0 |
| Đáp ứng yêu cầu của bài văn nghị luận văn học | |||
| Trình bày vấn đề một cách khoa học, hấp dẫn | |||
| 2 | Nội dung | 11,0 | |
| 2.1 | Giải thích | 3,0 | |
| – Cái gì được đóng khung: giới hạn trong một phạm vi nhất định, không gian chật hẹp, gò bó; sự sống đã đạt tới cùng đích: sự sống đã hoàn tất, kết thúc.
– Tác phẩm mở ra những chân trời, là sự đang trở thành không ngừng nghỉ: vô hạn, rộng lớn, nhiều khả năng liên tưởng; sự sống đang tiếp diễn, liên tục tái sinh.
|
|||
| Ý nghĩa khái quát: Ý kiến của tác giả Huỳnh Phan Anh nhấn mạnh bản chất của văn học: đặc tính mở, là sự sáng tạo đổi mới không ngừng, ý nghĩa của tác phẩm không phải là duy nhất, chưa hoàn kết mà luôn tiếp diễn. | |||
| 2.2 | Bàn luận | 6,0 | |
| – Đặc trưng của văn bản văn học: Văn bản văn học kết tinh sự sáng tạo của nhà văn; tác phẩm là một cấu trúc nhiều tầng bậc; ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật mang tính đa nghĩa, biểu tượng, do đó không có giới hạn cuối cùng về ý nghĩa, nội dung.
(Lấy dẫn chứng minh họa, ví dụ: tác phẩm văn học Thề non nước (Tản Đà), một mặt đó là bức tranh non nước tang thương, một mặt là câu chuyện của đôi trai gái đã từng thề nguyền chung thủy nhưng hiện tại chia phôi, ly biệt, lại có thể là tấm lòng tha thiết gắn bó của nhà thơ với Tổ quốc giang sơn trong cảnh ngộ mất chủ quyền) – Xuất phát từ đặc thù của hoạt động tiếp nhận văn học: sự đa dạng về vốn sống, trải nghiệm và tâm thế tiếp nhận của độc giả sẽ kiến tạo nên những giá trị mới cho tác phẩm. Người đọc chính là người nối dài cuộc đời của tác phẩm đến vô cùng, là cơ sở để biến cái “hữu hạn” của tác phẩm thành cái “vô hạn”. Do đó, tác phẩm văn học là chiếc cầu nối giữa nhà văn và người đọc. + HS lấy dẫn chứng, ví dụ: Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du khi miêu tả cảnh Thúy Kiều chia tay Thúc Sinh có câu: “Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” Hai chữ ‘lên ngựa”, “chia bào” vốn là những từ gợi hành động thường nhật của hai người gắn bó mật thiết mà phải xa nhau, phải chia tay nhau. Trong thơ Nguyễn Du, “lên ngựa” và “chia bào” không chỉ gợi hành động đơn thuần mà nó còn gợi cả sự lưu luyến, bịn rịn, nhớ thương, muốn níu kéo cái khoảnh khắc bên nhau dài thêm chút nữa. Và câu thơ ngắt làm đôi như ngầm chỉ nỗi lòng đầy tâm sự khó nói của hai người trong giờ phút chia tay (Thúc Sinh về quê để nói với vợ cả (Hoạn Thư) việc mình đã có thêm người mới/ vợ mới (Thúy Kiều)). Nhà thơ Nguyễn Du đã thật tinh tế khi cảm nhận hết nỗi lòng của hai nhân vật trữ tình. – Nếu văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội (Stendhal) thì nhà văn chính là thư ký của thời đại (Balzac). Khi thực hiện sứ mệnh sáng tạo của mình, nỗ lực tận hiến hết sức mình với khao khát cho ra đời những tác phẩm có giá trị, nhà văn không chỉ hướng tâm hồn con người đến chân, thiện, mỹ mà còn giúp con người đào luyện mình ngày càng hoàn thiện hơn, ngày càng nhân ái và tốt đẹp hơn. (HS bằng trải nghiệm văn học của mình để phân tích làm rõ)
|
|||
| 2.3 | Mở rộng | 2,0 | |
| Nhận định đã khẳng định sứ mệnh của văn học và đặt ra yêu cầu đối với người sáng tác và người tiếp nhận:
+ Văn học giúp con người thay đổi cách nhìn nhận về thế giới, giúp hiểu mình, hiểu người, khơi dậy ở con người những ý tưởng mới … + Nhà văn phải có ý thức và đủ tài năng trong việc tạo ra những ẩn ý, biểu tượng, những khoảng trống bỏ ngỏ để những tác phẩm văn học có khả năng mở ra những chân trời, những trải nghiệm quý báu. + Người đọc tự nâng tầm đón nhận, phải nhập cuộc và sống cùng tác phẩm để khám phá những giá trị phong phú của tác phẩm; tự do trong tiếp nhận văn học.
|
|||
| Tổng điểm câu 2 | 12,0 | ||
| Tổng điểm toàn bài ( 1 + 2) | 20,0 |