Đề thi học sinh giỏi: Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ

Bình luận ý kiến sau đây của Nguyễn Tuân: Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ . Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo . Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác .Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay (…) . Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy , nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt là văn cứng đơ, thấp khớp”.

BÀI LÀM THAM KHẢO

      Âm nhạc sẽ không xuất hiện và sẽ không làm rung động lòng người nếu cuộc sống không kì diệu với muôn nghìn âm thanh trầm bổng. Âm thanh là phương tiện biểu hiện của âm nhạc cũng như ngôn ngữ làm nên thế giới văn chương. Nhà văn là kĩ sư tâm hồn với chất liệu ngôn ngữ trong tay, phải học hỏi; sáng tạo để cấu thành tác phẩm. Tác phẩm có thể trở thành vốn liếng tinh thần quý báu của nhân loại hay không tùy thuộc vào nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật biểu hiện. Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật biểu hiện ngôn từ. Tìm hiểu, khám phá và sáng tạo không ngừng để mỗi dòng, mỗi chữ viết ra đều được chắt lọc tinh tế, độc đáo đủ sức thuyết phục lòng người và lắng đọng lại với thời gian, cuộc sống. Nhà văn Nguyên Tuân khẳng định với những người viết văn trẻ:

      “Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo. Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác. Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay (…). Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt là văn cứng đơ, thấp khớp”.

Bản quyền bài viết này thuộc về http://thuvienvanmau.net/̉. Mọi hành động sử dụng lại nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Văn chương là tiếng nói của tâm hồn, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, văn chương cũng muốn đem cái đẹp vào cuộc sống. Thế giới bao la với muôn nghìn sự kiện luôn sôi động, văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng là sự phản ánh có chọn lọc. Thế giới khách quan được nhìn qua thế giới chủ quan của tác giả; hiện thực sinh động được khái quát cụ thể; độc đáo trong tác phẩm văn chương. Nhà văn chân chính làm con ong miệt mài đi hút nhụy hoa, sương đêm lắng đọng để làm nên mật ngọt cho đời, và ngôn ngữ là phương diện thiết yếu giúp nhà văn sản sinh ra hương mật văn chương. Bông hoa kia, dù ngọt ngào hương sắc đến đâu, giọt sương đêm dù tinh sạch hơn cả khí trời, vẫn là vô dụng nếu chú ong không thể tạo những giọt mật thơm lành.

Văn chương bắt nguồn từ lao động và qua lao động, con người sáng tạo ra ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp; qua cách nói, viết thư, trao đổi. Nhưng cuộc sống vốn vận động và phát triển không ngừng, không chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp ấy, ngôn ngữ được sử dụng đa dạng hơn, mang tính thẩm mĩ cao hơn, đó là ngôn ngữ văn chương. Tiếng nói tình cảm của con người mang nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, ngôn ngữ cũng biến hóa kì diệu khôn lường để đáp ứng nhu cầu bày tỏ ấy. Từ thủa xa xưa, khi chưa có chữ viết, dân gian ta sáng tạo nên dòng văn chương truyền miệng, và từ đó đến nay, những tác phẩm dân gian vẫn tồn tại. Thế mới biết sức sống của ngôn ngữ mãnh liệt đến nhường nào! Lao động giúp con người tồn tại và lao động giúp con người sáng tạo ra ngôn ngữ để giao tiếp, bày tỏ cảm xúc. Những ngôn ngữ từ thủa mới khai sinh chỉ là một thứ tiếng nói thô sơ. Văn chương là một loại hình nghệ thuật ra đời giúp con người tìm đến với nhau. Nhà văn qua tác phẩm bày tỏ tâm tư, ước vọng với cuộc đời và con người trong xã hội.

Ngôn ngữ của cuộc đời thường là một loại quặng còn lẫn tạp chất. Nhà văn làm công việc của người tình nguyện loại bỏ những chất thải để kết đúc lại thứ kim loại hoàn hảo hơn, đủ sức lóng lánh phản chiếu tâm hồn. Nhà văn Nguyễn Du là đứa con máu thịt của dân tộc Việt Nam, tác giả sinh ra, lớn lên trong lòng tiếng Việt, ấp ủ, nuôi dưỡng “nỗi đau đời” để tạo nên tác phẩm Truyện Kiều bất diệt. Tác phẩm cũng là ngôn ngữ của nhân dân, thứ ngôn ngữ mà chúng ta hiểu và cảm thông sâu sắc. Đã mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều vẫn được đánh giá là một viên ngọc toàn bích về nghệ thuật, không một vết xước, không chút bụi mờ. Phải chăng Nguyễn Du đã làm công việc gạn lọc ngôn ngữ đời thường, tinh luyện, nâng niu từng chữ, từng câu để tạo nên vẻ đẹp tuyệt diệu đó? Nhưng dù có gạn lọc đến đâu, có đãi cát tìm vàng đi chăng nữa thì vốn liếng ấy cũng là ít ỏi so với một tác phẩm vĩ đại, cái tài, cái khổ luyện của Tố Như nào ở chỗ tác giả “không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ có sáng tạo”. Quả thật, nếu không làm được công việc đó, Truyện Kiều sẽ không được truyền tụng và hấp dẫn đến tận hôm nay. Hơn hai trăm năm, Truyện Kiều vẫn khiến muôn thế hệ phải rỏ từng giọt lệ xuống thương nàng Kiều. Ngôn ngữ Truyện Kiều đầy sức lay động, thuyết phục đến mức không thể nào thay thế được nữa. Nguyễn Du đã sử dụng và phát triển, sáng tạo ngôn ngữ có sức sống lâu bền nhất, hoàn hảo nhất. Từ một câu thơ chữ Hán của Thôi Hiệu, Nguyễn Du chuyển sang chữ Nôm đã trở nên đậm đà, gần gũi với dân tộc:

– Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

                                                              (Để đô thành Nam Trang – Thôi Hiệu)

– Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

(Kim Trọng trở về vườn Thúy – Nguyễn Du)

      Câu thơ chữ Hán là tâm trạng của Thôi Hiệu trước cảnh cũ nhớ người xưa, nhưng khi vào ngòi bút của Tố Như bỗng bồi hồi, xao xuyến tâm trạng chàng Kim nhớ thương người yêu. Tài năng của nhà thơ không chỉ là sự phát hiện sáng tạo ra cái mới mà còn là cách sử dụng tài tình, biến cái cũ thành cái mới mang sắc thái nhuần nhị hơn biểu cảm hơn. Nhưng học tập không có nghĩa là “ăn bám vào ngôn ngữ của người khác”. Cuộc sống, tình cảm của con người vốn phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có nhiều cách biểu hiện khác nhau. Ngôn ngữ văn chương là tiếng nói riêng của mỗi nhà văn về cuộc đời – nó phải chinh phục người đọc. Cùng một sự việc nhưng ở mỗi góc độ sẽ có cách nhìn khác nhau. Văn chương nếu chỉ là lặp lại thì sẽ không tồn tại được lâu dài. Nhà văn phải sống cuộc sống với nhân dân, chia sẻ niềm vui, ước vọng với họ thì mới nói lên được tiếng nói của nhân dân. Cuộc đời là trường học của những nhà văn tâm huyết, cuộc đời sẽ giúp nhà văn tích lũy được vốn sống, ngôn ngữ phong phú. Tư tưởng dù có vĩ đại bao nhiêu mà nghèo nàn biểu hiện thì cũng trở nên vô ích. Nội dung phải phù hợp với hình thức. Hai yếu tố thống nhất sẽ làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh, cũng như tư tưởng lớn được diễn đạt với một vốn ngôn ngữ đa dạng, hình thức thích hợp. Cùng một giọt nước mắt của nàng Kiều nhưng mỗi lần Kiều khóc, Tố Như lại có một cách diễn đạt khác nhau. Và cứ thế, từ đầu đến cuối tác phẩm, người đọc bị cuốn hút, say mê, bị dằn vặt bởi nỗi đau nàng Kiều, mà mỗi lần đau mỗi lần cay đắng khác nhau, muôn hình muôn vẻ, phức tạp như chính cuộc sống thực. Cũng là niềm cô đơn làm Kiều trăn trở, day dứt thâu đêm, nhưng trong mỗi hoàn cảnh, sự cô quạnh đó nhuốm sắc thái thật riêng;

Một mình mình biết một mình mình hay.

      Câu thơ tám chữ với bốn lần lặp lại chữ “mình” sao chua xót, bẽ bàng đến thế! Ngôn ngữ trong tay Nguyễn Du biến hóa diệu kì như vẻ đẹp tiếng Việt thâu tóm dưới đầu ngọn bút: “Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. Với những chữ “riêng” lặp lại đến ba lần. Tố Như làm người đọc phải giật mình đến thảng thốt vì thương cho phận nàng Kiều. Ngôn ngữ trong Đoạn trường tân thanh chẳng những giàu mà lại đẹp đến mức diệu kì. Nếu Nguyễn Du không tích lũy được cho mình một “đội quân từ ngữ” hoàn chỉnh đến thế thì truyện Kiều rất dễ làm người đọc nhàm chán biết bao. “Giàu ngôn ngữ thì vẫn sẽ hay” nhưng có vốn mà không biết sử dụng thì chỉ như nhà giàu giữ của. Ngôn ngữ của cuộc đời thường vào tác phẩm phải là những dòng ngôn ngữ văn chương giàu tình cảm, giàu sức biểu hiện. Có những từ là “nhãn tự” của thơ thì mới có những khổ thơ, bài thơ xuất thần, độc đáo. Nhà văn làm công việc chọn lựa ngôn từ sao cho từ nào đắc ý nhất, đúng chỗ của nó nhất. Khi miêu tả Thúy Kiều với đôi ba nét, Nguyễn Du đã báo trước số phận của nàng:

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

(Trích Chị em Thúy Kiều)

      Những sinh vật vô tri làm sao có thể “ghen, hờn” trước nhan sắc con người. Hay phải chăng định mệnh trớ trêu đã để mắt tới người con gái tài sắc vẹn toàn ấy. Chỉ dùng một hai chữ thôi nhưng đủ sức diễn tả, dự báo cả cuộc đời nhân vật, thế chẳng là tài tình lắm sao!

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

(Trích Độc Tiểu Thanh kí)

      Tiếng “khấp” của thi hào vĩ đại Việt Nam vẫn vang vọng hằng bao thế kỉ, đi giữa lòng người để nói về nỗi đau đời chất chứa trong tim. Nhà văn không sử dụng tiếng “khốc” mà lại là tiếng “khấp”: tiếng nức nở trong tâm hồn, mặn xót, tái tê, nước mắt chảy ngược vào hồn nên ngàn năm còn thương, còn xót. Tố Như để lại cho đời sau một di sản tinh thần đồ sộ và phong phú, đọc văn của ông ta không thể lơ là khi sử dụng tiếng Việt. Ngôn ngữ làm nên văn chương và văn chương có sức mạnh xây dựng hay tàn phá. Phải trân trọng và biết sử dụng ngôn ngữ thì mới có thể sáng tác nên những tác phẩm hay, độc đáo.

Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống nhưng không có nghĩa là bê nguyên cuộc sống vào tác phẩm, mà văn chương là tái hiện và tái tạo cuộc sống.

Nhà văn phải nói lên khát vọng của nhân dân, dự báo mọi điều đang đến và sẽ đến trong tương lai. Do đó, văn chương là loại hình nghệ thuật tuyệt vời nhất, đậm đà tình cảm nhất. Muốn văn chương thật gần gũi với quần chúng, nhà văn phải nói lên được khát vọng của họ với cuộc đời, sao cho mỗi tác phẩm đều đem đến cái đẹp cho cuộc đời. “Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp”. Sự linh hoạt của văn chương tức là sự linh hoạt của nhà văn khi lao động, sáng tạo nghệ thuật, sao cho mỗi hình tượng nghệ thuật đều có sức trường tồn với thời gian.

Văn chương nếu là bê nguyên cuộc đời vào tác phẩm thì chẳng có gì đáng nói, mà nó phải “người lạ mà quen biết” (Biêlinxki). Nhà văn, nhà cảm nhận cuộc sống theo cách riêng của mình, đôi khi điều đó trái với quy luật nhưng lại phù hợp với tâm hồn người, nó được bạn đọc chấp nhận:

Ngoài thêm rơi cái lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

(Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa)

      Với cảm nhận độc đáo của mình, Trần Đăng Khoa đã táo bạo nghe âm thanh (thính giác) bằng đôi mắt (thị giác). “Tiếng rơi rất mỏng” như vết cắt nhẹ nhàng của chiếc lá phiến diện rơi nghiêng: Đêm sau chiến tranh không gian lại yên tĩnh đến thế ư? Cách diễn đạt, sử dụng ngôn từ mới mẻ của mình đã làm nên một hiện tượng ngôn ngữ thật đẹp.

Ngôn ngữ trong văn chương đa dạng, phức tạp như chính cuộc sống hằng ngày. Qua bàn tay tôi luyện của nhà văn, ngôn ngữ ấy làm nên sự phong phú của văn chương. Lời khẳng định của Nguyễn Tuân là một lời khuyên đáng quý cho những người bước vào ngưỡng cửa viết văn và cả cho những ai yêu thích sự sáng tạo văn chương. Nhưng điều đó không có nghĩa là rơi vào chủ nghĩa hình tượng, bỏ quên nội dung tư tưởng tác phẩm, mà một tác phẩm hay là sự kết hợp hoàn hảo giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, sao cho đó là những bông hoa hương sắc vẹn toàn. Và muốn nghiên cứu ngôn ngữ văn chương ta sẽ luôn nhớ đến lời khuyên của nhà văn Vang bóng một thời:

“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ..”.

Nguyễn   Thị  Bích  Ngọc

Trường THPT Lí Tự Trọng – Cần Thơ

Bài đoạt giải Nhì

 

 

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*