Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái xấu cũng chỉ nhằm thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện

“Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu,  cái xấu cũng chỉ nhằm thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện”.

Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.

(Đề thi chọn HSG Văn toàn quốc năm học 2013 – 2014)

Bài làm

      Người ta thường nói văn học là địa hạt của cái đẹp. Biêlinxki cho rằng: “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật”. Nếu thiếu cái đẹp thì không có, không thể có nghệ thuật. Tâm hồn giống như một khúc nhạc, và khi được thể hiện qua ngôn từ, thì nó trở thành văn chương. Bởi vậy, khi những làn sóng từ cuộc đời nối tiếp nhau xô vào tâm hồn ta, thì chính văn chương sẽ là cái đau xót, nhức nhối, hay cả những hài lòng, khoan khoái cất lên từ sự va đập ấy. Vậy nhưng, trong lịch sử, ta thấy vẫn có những tác phẩm văn chương viết về cái xấu, cái ác mà vượt qua thời gian và mọi sự sàng lọc để trường tồn. Sức sống của chúng minh chứng rằng văn chương bao giờ cũng là địa hạt của cái đẹp, đẹp ngay cả khi đề cập đến cái tàn ác xấu xa. Đúng như có kiến cho rằng: Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu,  cái xấu cũng chỉ nhằm  thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện.

Bản quyền bài viết này thuộc về http://thuvienvanmau.net/̉. Mọi hành động sử dụng lại nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

      Văn chương là nghệ thuật sử dụng chất liệu ngôn từ để xây dựng hình tượng nghệ thuật. Và văn học chân chính phải là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện đời sống con người cũng như cái nhìn sâu sắc, mới lạ của nhà văn về thực tại ấy. Những tư tưởng được kết đọng ở tầng sâu, những tình cảm được nung nấu đến độ bỏng sôi mãnh liệt, những ngôn từ thể hiện qua một bút pháp tài hoa. Văn học chân chính là chuyện đời, chuyện người, chính xác hơn, là tình đời, tình người. Cái ác, cái xấu là những phương diện tiêu cực, có tác hại xấu đến đời sống. Cái đẹp, cái thiện là những giá trị, những hiện tượng có tính thẩm mĩ cao nhất, làm đẹp, làm tốt hơn cho con người cũng như xã hội. Nhận xét trên đã khẳng định một quy luật của văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung: luôn luôn hướng đến cái đẹp. Ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng phải là tạo “cớ” để thể hiện khát vọng vươn tới cái cao cả và đẹp đẽ, để bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ của con người.

Phải thừa nhận rằng, trong lịch sử văn chương có những tác phẩm viết vể cái đen tối, cái tiêu cực nhưng vẫn có sức sống cao.

Trước hết văn học phản ánh đời sống của con người. Các-Mác quan niệm: “Sự tồn tại của mọi người chính là quá trình sống thực tế của họ”. Trong “quá trình sống thực tế” của xã hội có tồn tại cái ác, cái xấu. Văn học, với tư cách là một hình thái ý thức, không bỏ qua sự “phản chiếu”, ghi lại cuộc sống ở cả mặt bằng tối.

Mặt khác, theo nhà văn M. Gorki thì: “Văn học là nhân học”. Trong bản chất “nhân học” ấy, văn chương chú ý đến thể nghiệm, khám phá con người tự nhiên, con người với những mong muốn, khát vọng nhân bản cũng như những đặc trưng tâm lí bản năng. Không phải ngẫu nhiên mà các sáng tác bị cho là “dâm” và “tục” của Hồ Xuân Hương có sức sống lâu bền đến vậy. Trong con người ở góc độ “tự nhiên”, trong tính cách thiên nhiên của nhân loại cũng ẩn tàng mầm mống của cái ác, cái xấu, của lòng đố kị, tính ích kỉ.

Vậy cái xấu, cái ác tồn tại trong văn chương là điều không thể phủ nhận. Nhưng không phải không có một “chuẩn” nào cho những tác phẩm có giá trị thực sự.

Khi phản ánh những “góc khuất”, những phương diện tiêu cực của đời sống con người, để có được những sản phẩm nghệ thuật chân chính, nhà văn phải đứng ở đỉnh cao của lí tưởng thẩm mĩ để soi chiếu. Nhà văn lấy tâm hồn cao đẹp của mình để nhìn vào bóng tối, vạch trần nó, phán xét nó. Bằng cái nhìn của lí tưởng thẩm mĩ, người cầm bút mới có khả năng khai thác sâu sắc cái xấu, cái ác. Hơn thế nữa, càng là những nhân cách cao cả, những tâm hồn cao đẹp, con người ta càng nhạy cảm với cái đen tối, cái xấu xa. Vũ Trọng phụng được giáo dục trong một môi trường gia giáo mà người mẹ của ông đặt ra, bằng những tư tưởng Nho gia chặt chẽ. Do đó, không ai phát hiện, nhìn thấu cái dâm, cái đểu, cái bịp bằng ông (cố nhiên cũng là cái “tạng” riêng của nhà văn). Nhiều người khi đọc Nguyễn Huy Thiệp chê văn ông “ghê ghê” nhưng nhà văn này lại có điểm tựa thẩm mĩ của mình, đó là thiên tính nữ (các nhân vật nữ của Thiệp hầu hết đều vô cùng đẹp), là mối quan hoài, nỗi lòng xót xa trước cuộc đời.

Ở một góc độ khác, cần phải nhớ rằng, một trong bốn biểu hiện quen thuộc nhất của chủ nghĩa nhân đạo (humanism) là lên án, tố cáp những thế lực đen tối chà đạp lên quyền sống, lên thân phận con người. Một trong những nội dung của chủ nghĩa này là phê phán cái xấu, cái ác. Những tác phẩm văn chương chân chính thường không thể thiếu được sự kết tinh của chủ nghĩa nhân đạo. Do vậy, nếu viết về cái xấu, cái ác cũng là để công kích nó. Quan trọng hơn, là thể hiện khát vọng về cái thiện, cái đẹp.

Trong đời sống nói chung, cái đẹp và cái xấu, “ánh sáng” và “bóng tối” không phải bao giờ cũng phận biệt rạch ròi. Chẳng những thế, con người có một đặc tính mà như L. Tôn- xtôi gọi là tính “lưu luyến” (fluidité). Khi thông minh, khi lại ngu dốt, khi mạnh mẽ, khi lại yếu đuối, khi ác, khi thiện, khi vui, khi buồn… Chính con người cần đến văn chương để bồi đắp lí tưởng thẩm mĩ, dùng cái nhìn của văn học để nhận thức, phân biệt thiện – ác, tốt – xấu. Quan trọng hơn, văn nghệ, văn học giúp người ta ghét cái ác, yêu cái thiện, ghê cái xấu, mến cái tốt. Hoặc bằng thái độ phê phán hoặc châm biếm, có khi cả hai, văn chương giúp con người tránh xa cái xấu, vươn tới cái đẹp, cái thiện.

Có thể nói, văn chương chân chính từ xưa đến nay, ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện của con người. Trong văn học Việt Nam, từ truyện cổ tích, từ ca dao đến thơ ca ngày nay đều mang đặc tính ấy. Truyện Tấm Cám xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập thuộc hai thái cực hoàn toàn trái ngược nhau. Mẹ con Cám là các nhân vật phản diện, là hiện thân của cái ác. Ở đây, tác giả dân gian khai thác, thể hiện sự tăng tiến của cái ác. Từ việc đối xử không công bằng với Tấm đến những âm mưu và hành động hãm hại Tấm, thậm chí lấy mạng cô Tấm. Chính sự gia tăng tội ác này mới đáng sợ. Qua quá trình gia tăng ấy, tác giả dân gian muốn hình thành ở người đọc sự căm ghét và phản đối ngày một quyết liệt hơn. Quan trọng hơn, khát vọng về cái đẹp, cái thiện được đề cao. Cụ thể qua hai tình tiết. Thứ nhất, mặc dù mẹ con Cám hết lần này đến lần khác hãm hại Tấm, thậm chí ngày một tàn độc hơn, cô Tấm vẫn bền bỉ, vẫn tiếp tục hóa thân để chuẩn bị cho sự trở lại. Nhân dân thể hiện niềm tin vào cái đẹp, cái thiện, công lí. Rằng chúng là bất diệt, cái ác không bao giờ chiến thắng được hoàn toàn cái thiện. Thứ hai, với sự “lên ngôi” của cô Tấm và việc mẹ con Cám bị trừng phạt, tác giả dân gian thể hiện khát vọng về chiến thắng cuối cùng của cái đẹp, cái thiện cũng như sự diệt vong của cái ác, cái xấu! Mặc dù trong phần lớn câu chuyện, cái ác, cái xấu liên tục thắng thế, chèn ép cái thiện, cái đẹp. Nhưng khi truyện kết thúc, độc giả vẫn hài lòng với sự bất diệt tất yếu của cái đẹp.

Văn học chân chính qua bao thời đại vẫn giữ nguyên lập trường về cái xấu, cái ác. Không bao giờ và không ở đâu cái xấu, cái ác lại được đề cao, trân trọng. Văn chương trung đại đã có biết bao bản cáo trạng bằng thơ đanh thép tố cáo tội ác của quân xâm lược như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỗ xuống dưới hầm tai vạ.

      Những tội ác mà “trúc Lam Sơn không ghi hết tội” ấy, nghìn đời không thể dung thứ. Và tác giả của áng “thiên cổ hùng văn” đã thể hiện rất rõ thái độ căm hận đối với tội ác quân thù, giống như Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn khi xưa mang mối hận “chưa xẻ thịt, lột da, nuốt gan, uống máu” quân thù. Cái khát vọng bình yên no ấm cho nhân dân, khát vọng tự do cho dân tộc đã được thể hiện qua cách mà các nhà thơ, cũng như những viên tướng trực tiếp chiến đấu chống ngoại xâm, gửi gắm trong thơ ca. Cái ác trong văn chương của họ hiện lên làm bất cứ người dân Việt Nam nào cũng phải trào sôi nỗi căm hận quân thù và xót thương cho số phận nhân dân ta.

      Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có hai tuyến nhân vật. Một bên là Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, bên kia là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Ưng Khuyển… Cuộc đời Kiều long đong, lận đận, tủi nhục, đau khổ vô cùng cũng là do sự vô nhân tính, độc ác của một loạt những kẻ xấu. Mối tình với Kim Trọng tan vỡ, Từ Hải bị hại, Kiều phải hứng chịu “biết bao gió dập sóng dồn”. Bằng bản Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du lên án xã hội phong kiến và những thối nát, xấu xa của nó, bày tỏ lòng đồng cảm, xót thương với con người tài hoa, bạc mệnh. Bất cứ ai cũng không khỏi day dứt trước sự thiếu công bằng mà xã hội phong kiến dành cho người phụ nữ mà nhất là người phụ nữ tài hoa. Khát vọng về cái thiện, cái đẹp đã góp phần giúp cho đại thi hào Nguyễn Du có được một cái nhìn vô cùng nhân văn. Cái nhìn ấy thể hiện qua câu nói của Kim Trọng:

Hoa tàn mà lại thêm tươi

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa

      Nguyễn Du khẳng định, sau bao nhiêu tủi cực, khổ nhục, Kiều vẫn đẹp,đẹp viên mãn. Thậm chí, Kiều còn đẹp hơn xưa, cái đẹp của Kiều “hơn mười rằm xưa”.

      Văn học chiếm lĩnh thế giới qua con đường khám phá, cắt nghĩa và lí giải các hiện tượng đời sống. Nam Cao, một cây bút xuất sắc khác của chủ nghĩa hiện thực rất thành công trong vấn đề này. Nam Cao luôn nhìn thẳng vào các vấn đề đời sống và con người thuộc về cái xấu, cái ác nhưng là để tìm ra nguyên nhân của sự tha hóa ấy. Ngòi bút của ông như lưỡi dao của nhà giải phẫu, lách sâu vào từng nhân vật, khám phá con người bên trong con người. Cả đời văn Nam Cao cứ đau đáu nhìn vào vấn đề nhân cách. Tài năng của ông kết tinh rực rỡ nhất ở hình tượng Chí Phèo – một tên lưu manh, một thằng quỷ dữ, thằng đầu bò gieo rắc bao nhiêu tai họa cho người dân làng Vũ Đại nhưng lại biết khao khát làm người. Miêu tả quá trình lưu manh hóa và bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo, Nam Cao dõng dạc cất lên tiếng nói lên án xã hội ăn thịt người vô nhân và vô luân. Chỉ ra bản chất tốt đẹp của phần lương thiện cuối cùng trong cuộc đấu tranh giữa lại nhân tính của Chí, Nam Cao trân trọng khát vọng lương thiện và cất cao tiếng nói bênh vực nhân phẩm, bảo vệ quyền sống cho những con người bị dập vùi tàn nhẫn bởi chế độ xã hội bất công và bất nhân.

      Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu ra đời năm 1983, trong thời kì văn học Việt Nam đang bắt đầu chuyển mình. Từ quỹ đạo chiến tranh, đời sống trở về nhịp độ hòa bình. Truyện viết về đời sống của những người lao động nghèo thời kì đất nước mới ra khỏi lửa đạn. Trong giai đoạn ấy, bóng đen thực dân, đế quốc đã không còn, nhưng lại có những bóng đen khác đang đè nén con người.

      Nhà nhiếp ảnh Phùng tận mắt chứng kiến cảnh một người chồng đánh vợ mình bằng chiếc thắt lưng một cách tàn bạo. Lão chồng quật liên tiếp vào lưng vợ, vừa đánh vừa nghiến răng ken két, vừa đánh vừa nguyền rủa: “Mày chết đi cho ông nhờ! Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Nhưng không phải chỉ một lần, người đàn bà còn bị đánh ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.

Điểm sâu sắc của Nguyễn Minh Chầu là cắt nghĩa, lí giải cái ác này. Cụ thể, qua tác phẩm, nhà văn đưa ra ba lí do. Thứ nhất là cái khổ. Có những “vụ bắc”, cả gia đình toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối. Chính người vợ nói rằng cứ khi nào cảm thấy khổ quá là lão lôi chị ra đánh. Thứ hai là sự bế tắc. Vì không biết giải quyết cái khổ thế nào nên lão đàn ông phải tìm cách hòa giải. Đánh vợ như một sự giải tỏa đối với anh ta. Như những người khác thì uống rượu. Nhưng uống rượu cũng chỉ là sự bế tắc. Quan trọng nhất là lí do thứ ba này: Sự u mê về ý thức làm người. Trong hoàn cảnh gian khổ khó khăn, đáng ra cả gia đình phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Đằng này họ lại hành hạ nhau. Bởi gã đàn ông đó cả đời lênh đênh trên biển, xa cách khỏi xã hội, hắn không hiểu thế nào là sống cho ra con người. Từ sự cắt nghĩa, lí giải đó, Nguyễn Minh Châu đề nghị một cái nhìn thẳng thắn vào tình trạng xã hội. Qua đó, thể hiện mong muốn cải tạo đời sống con người trước hết là làm cho no ấm đời sống vật chất. Sau đó hướng đời sống tinh thần đến cái thiện, cái đẹp.

Có thể nói văn học viết về cái xấu, cái ác còn là trên góc độ những nạn nhân của chúng. Tức là khai thác mâu thuẫn giữa cái đen tối và cái tốt đẹp cũng như với thân phận con người. Từ việc chỉ ra cái xấu, cái ác và sự xâm hại của nó đến cái đẹp, đến những giá trị cao cả, văn học đem đến cho con người cảm nhận về cái bi (tragic). Cái bi cũng hướng tâm hồn con người đến cái đẹp, cái thiện. Và cũng như Arít-xtốt nói, có khả “thanh lọc” (catharsis) tầm hồn con người. Ông viết trong Thi học: “… Với những tình tiết làm thức tỉnh tình thương và sự sợ hãi, và qua đó, thực hiện sự thanh lọc đối với những cảm xúc ấy”.

Từ góc độ mĩ học, có thể nhìn nhận cái xấu, cái ác như những phạm trù thẩm mĩ cục bộ – với cái đẹp – mang ý nghĩa khái quát, là hạt nhân của mĩ học, cái mà để chính xác nên gọi là cái thẩm mĩ (aesthetic). Có thể nói, cái xấu, cái ác cũng là một phần tạo nên cái thẩm mĩ, là mặt biện chứng của cái đẹp (cục bộ). Do đó hoàn toàn có thể xuất hiện trong nghệ thuật. Cố nhiên, nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện. Nếu viết về cái tiêu cực mà không có điểm tựa lí tưởng thẩm mĩ và nhất là định hướng thẩm mĩ, tác phẩm sẽ rơi vào chủ nghĩa tự nhiên hoặc chủ nghĩa dung tục. Chức năng thẩm mĩ là chức năng quan trọng nhất của văn chương, nó làm cho nghệ thuật trở thành hoạt động tinh thần không thể thay thế được.

Nhà văn phải có con mắt tinh đời để phát hiện ra bản chất cuộc sống, những bản chất không hiện lộ ra ngoài ở những điều dễ thấy. Nhà văn cần phải có tài năng để xây dựng một thế giới hình tượng hấp dẫn và có tâm huyết để phản ánh đúng sự thật cuộc sống mà không thoát li, ảo tưởng.

      Ý kiến đã nêu lên một nhận xét đúng đắn về văn học. Không từ chối dấn sâu vào cái ác, lột tả nó một cách thấm thía để người đọc có thể nhận ra và khao khát loại bỏ. Nếu văn học chỉ đơn thuần làm lan truyền nỗi buồn, sự tuyệt vọng đến người đọc thì quả thực là đáng buồn. Văn học phải là ngọn hải đăng định hướng cho người đọc đến với chân lí.

Dĩ nhiên ta vẫn cần những áng văn đẹp đẽ giúp ta nhận thức về cái hay của thế giới, giúp ta sống lạc quan và yêu cuộc đời hơn. Nhưng văn học, đôi khi cần thứ thuốc đắng dã tật.

Nhà văn có lẽ đã tìm ra con đường cho nghệ thuật chân chính của mình. Hãy ngụp lặn sâu vào cuộc sống, hỡi những nhà văn. Người đọc hãy hiểu họ và đến với văn chương với tấm lòng chân thực. Chỉ khi đó, văn chương mới thực sự là văn chương chân chính, đồng hành với con người trong hành trình vươn tới chân – thiện – mĩ.

Trần Hoàng Nam

THPT Chuyên Lê Khiết – Quảng Ngãi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*