Bình luận ý kiến :đã là văn chương thì phải đẹp,Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo là cái riêng, cái độc đáo

Nhà văn Nguyên Ngọc quan niệm : đã là văn chương thì phải đẹp,Tiến sĩ Đoàn Cẩm Thi cho rằng : Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo là cái riêng, cái độc đáo”

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân , anh chị hãy bình luận ý kiến trên

BÀI LÀM THAM KHẢO

Bản quyền bài viết này thuộc về http://thuvienvanmau.net/̉. Mọi hành động sử dụng lại nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Ta say đắm trứớc áng mây hồng của sớm mai bình minh hơn ráng mây buồn khi chiều tàn khuất lối? Ta rung động trước đóa hoa đẹp lung linh dưới ánh mặt trời hơn những cánh hồng đã úa tàn không còn sinh khí? Cuộc đời con người là hành trình đi tìm cái đẹp và luôn vì cái đẹp mà tồn tại. Văn chương cũng không ngoại lệ, cho nên nhà văn Nguyên Ngọc quan niệm: “Đã là văn chương thì phải đẹp”. Nhưng cái đẹp của văn chương cũng như cái đẹp trong cuộc sống hằng ngày phong phú và đa dạng nên Tiến sĩ Đoàn Cẩm Thi cho rằng: “Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo là cái riêng, cái độc đáo”

Khi người lãng khách phong tình sau bao ngày tháng phiêu bạt giữa miền gió bụi; chàng đã dừng chân lại quán trọ văn chương; nếm thử vị ngọt của từ ngữ, hương thơm của ngôn từ và đã đem lòng say mê. Bước chân vào thế giới văn chương cũng chính là lúc đặt chân vào thế giới của những kì quan đồ sộ bằng ngôn từ. Lúc ấy, họ sẽ mang những “hạt bụi vàng mà đời rơi vãi” (chế Lan Viên) như những câu chuyện của Pau-tốp-xki; những câu chuyện ngân vang trên ngọn đồi tuyết phủ trắng trời, thấp thoáng những đóa sơn trà e ấp trong làn sương giăng mờ ảo đã gieo vào tâm hồn Xi-mố-nốp nguồn cảm xúc dạt dào:

Đồi trung du phất phơ bóng thông già

Rừng thông đứng hồn trong chiều gió lặng

Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ

Như đám mây ngũ sắc ngủ trên đầu.

(Bông hồng vàng và bình minh mưa – Xi-niô-nốp viết tặng Onga Becgon, Bằng Việt dịch)

Những trang sách của Pau-tốp-xki lấp lánh giữa cuộc đời tựa như sự kết tinh; chắt chiu của muôn triệu hạt bụi quý, đẹp đẽ và tinh khôi rải rác của cuộc đời. Nói cách khác, “công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức” (Theo dòng – Thạch Lam). Do đó; từ cổ chí kim, đi tìm và khám phá tận cùng chiều sâu của cái đẹp vẫn luôn là “cụộc hành trình đầy lao lực”, “vừa là chỗ dừng chân vừa là cuộc hành trình” (Thơ ca – Raxun Gamzatop).

Thiên chức của nhà văn là khơi nguồn cho cái đẹp tràn vào trang viết. Bởi lẽ, từ cuộc  sống đến văn học, cái đẹp vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng, chi phối cảm quan con   người. Cái đẹp từ ngoài thực tại bước vào trang văn nó đã nâng tầm lên thành giá trị thẩm  mĩ và khi ấy nó đã mang hình hài cần có của bản thân và đi “cứu rỗi cả thế  giới”  (Ác-xi-tốt). Trong nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ góp phần định hướng tư duy theo tiêu chí chân – thiện – mĩ.  Những nghệ sĩ chân chính qua hoạt động nghệ thuật của mình đã khẳng định những tư   tưởng tiến bộ; nhằm phục vụ điều thiện và chính nghĩa. Thiếu khát khao vươn tới cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi sức mạnh cơ bản của nó; nó sẽ không thể thanh lọc tâm hồn con người và cải tạo xã hội. Vì vậy, nghệ thuật không phản ánh quỵ luật của đời sống mà còn phản ánh  cách đánh giá thẩm mĩ về đời sống. Nếu không có khát khao tìm đến cái đẹp thì làm sao có  ‘Vạng bóng một thời”? Nếu không có lòng tôn thờ cái đẹp thì ắt gì đã có cảnh cho chữ lung  linh giữa ngục tù tăm tối? Do đó, xuất phát từ đặc trưng của văn học: Phản ánh hiện thực   theo quy luật của cái đẹp nên: “Đã là vãn chương thì phải đẹp, đẹp là chức năng hàng đầu là I đạo đức của văn chương ’ (Nguyên Ngọc). Mặt khác, vẽ được bức tranh đẹp nhưng không có   người thưởng thức thì cũng không có ý nghĩa gì; tức quá trình sáng tác thì phải đi đôi với quá trình tiếp nhận. Cuộc sống con người không bao giờ là trọn vẹn, đủ đẩy, có những tâm   hồn nhuốm đầy mùi chia li; màu tang thương; vị tiếc nuối nên họ rất cần, rất cần cái đẹp chạm khẽ trái tim mình, làm xóa nhòa những vết thương còn hằn sấu trong ấy và để làm  phong phú hơn cho đời sống tinh thần. Khi cuộc sống không cho ta thứ ta cần, ta lại tìm ; về với văn chương; nhìn vào cuộc đời của nàng Tấm (Tấm Cám) ta lại thấỵ mạnh mẽ hơn  nhiều; chiêm ngưỡng cảnh ngày hè bình dị (Cảnh ngày hè -Nguyễn Trãi) ta sẽ trân quý biết   bao cuộc sống này; và khi nhìn vào Liên và An (Hai đứa trẻ – Thạch Lam) ta nhận ra bản  thân mình đã quá may mắn rồi! Chính vì lẽ đó, văn chương viết về cái đẹp là để thỏa mãn nhu cầu cảm thụ và thưởng thức cái đẹp của con người. Tuy nhiên, cái đẹp ở đây không  hiểu đơn thuần chỉ là những điều tốt đẹp lớn lao mà thay vào đó, nó là một trường đa dạng   với những cung bậc khác nhau, cái bi, cái hài; cái xấu, cái ác… đôi khi cũng là những nốt nhạc   đẹp ngân lên trên cung đàn ấy. Tác phẩm văn học thoát thai từ cuộc sống xô bồ; nó dứt khoát   phải chào đời trên thân thể của cái đẹp. Vì vậy, cái đẹp không chỉ đơn thuần là phép cộng   của những địều tươi sáng mà nó là tổ hợp thống nhất của cái chân và cái thiện, đúng như  Nguyên Ngọc đã nói: “Đã là văn chương thì phải đẹp.

Léc-môn-tốp đã từng tâm sự rằng: “Nếu những nỗi đau khổ kia bị kiềm chế, nay sôi sục dâng lên trong lòng vì có những đêm không ngủ, mắt rực cháy và thôi thúc lòng ngập tràn nhớ nhung, khi ấy tôi viết”. Thật vậy, tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn, là quá trình thai nghén lâu ngày, là kết tinh từ những giọt nước mắt đau đời và những dòng máu ấm nồng từ trái tim vĩ đại trong người thi sĩ. Thế nến; tác phẩm văn học dù muốn hay không đểu phải mang dấu ấn của người đã tạo ra chúng. Một Chế Lan Viên cô đơn, ta lại thấy:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo.

(Những sợi tơ lòng)

 

Hay một hồn thơ yêu đời:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi ĩà một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

(Từ ấy- Tô Hữu)

Mặt khác, văn học là lĩnh vực của cái độc đáo, mỗi tác phẩm đích thực phải là những tác phẩm được xây dựng từ ngòi bứt chân chính, mới lạ và sáng tạo, nó nhất thiết phải là: “Một phát minh về hình thức, một khám phá về nội dung ‘ (Lê-ô-nit Lề-ô-nốp). Lao động của nhà văn là lao động sáng tạo nên khi đã chấp nhận nối nghiệp văn chương thì mỗi nhà văn phải có một giọng điệu riêng biệt vì: “Điều  còn lại của mỗi nhà văn là cái giọng nói của riêng mình”. Chính vì thế; do yêu cầu sáng tạo của văn học, đòi hỏi người cầm bút phải có nét bút mới mẻ, ngòi bút sáng tạo và phải duy trì, có tính chất ổn định, phải có giá trị thẩm mĩ để tạo nên phong cách một nhà văn. Tứ cái tối phong cách độc đáo người nghệ sĩ mới từng bước khám phá chiều sâu đầy bí ẩn của tâm hồn con người và cụộc sống theo quy luật của cái đẹp. Từ đó, mỗi nhà văn khác nhau, thế giới quan khác nhau, dẫn đến vũ trụ quan cũng khác nhau, cái đẹp ra đời cũng mang những dáng hình không giống nhau. Nhưng chung quy lại; đó đều là vẻ đẹp được tạo ra từ phong cách nhà văn gây cho người đọc những cảm nhận thẩm mĩ nhất định. Quả thật, “cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo, ỉà cát riêng, cái độc đáo”.

Cả hai nhận định đều đang ngầm đánh giá; phẩm bình về bình diện cái đẹp trong văn học hay nói cách khác là chức năng  giá trị thẩm mĩ trong hệ thống nhất định của nó. Hai lời đánh giá không phải là hai đường thẳng song song, mà đó là những đường tiệm cận có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Ý kiến của Đoàn Cẩm Thi là một lí giải có cơ sở cho nhận định của Nguyên Ngọc.  Nó như thể hiện một trong những bình diện của cái đẹp: Phong cách nhà văn. Chính những dấu ấn sáng tạo độc đáo làm nên cái đẹp cho văn chương và văn chương thì lụôn cần phải có cái đẹp. Trong lịch sử văn học dân tộc  đã ghi lại nhiều dấu chân của những con người mang trong mình phong cách mới lạ, đặc biệt. Theo Tô Hoài: “Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo do phong cách riêng của mình mà có”, mỗi trang văn còn vương lại trên trần thế là mỗi phong cách ghi tạc trăm nghìn năm.

Khi cùng viết về đề tài người nông dân, nhưng ở hai nhà văn khác nhau hai góc độ khác nhau lại sinh ra những nhân vật và giá trị thẩm mĩ khác nhau. Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố người đọc tiếp cận với một không gian ngột ngạt oi bức, nỗi khổ đè nặng trên đôi vai gầy yếu, nỗi đau xé lòng của chị Dậu dường như đã thành nỗi đau tột cùng. Nhưng khi nghe tiếng chửi tục tĩu, khuôn mặt đầy vết sẹo bước chân chệnh choạng ngật ngưỡng của Chí Phèo bước đi trên những dòng văn của Nam Cao ta mới thấy rằng đó mới là kẻ khốn cùng ở nông dân Việt Nam ngày trước. Tình cảnh của Chí Phèo khác hẳn với các nhân vật trước đó, cũng là người nông dân khỏe mạnh và trung thực nhưng bị vu oan đa biến Chí Phèo thành một tên lưu manh mất hết nhân hình lẫn nhân tính. Cảnh ngộ ấy, các tác phẩm hiện thực phê phán chưa để cập khai thác được. Với nó, Nam Cao khòng chỉ lột trần sự thật đau khổ của người nông dân mà còn nêu lên một quỵ luật xuất hiện trong làng xã Việt Nam trước Cách mạng: Hiện tượng người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hóa. Tình cảnh ấy của Chí Phèo   đã làm cho số phận người nông dân trung thực rơi xuống vực thẳm của bi kịch. Trước kia là  nỗi khổ của chị Dậu phải bán con và bán chó để cứu chồng, tồn tại; xem thế cũng là trắng tay  tưởng như không thể còn bòn kiếm  gì hơn được; nhưng Chí Phèo còn tìm thêm thứ tài sản quý giá nhất của mình là nhân tính; là linh hồn. chị Dậu dù khổ sở đến đâu những vẫn còn là một con người, còn Chí khi bán linh hồn của mình thì thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại; bị tước đoạt quyền làm người và chết trên ngưỡng cửa trở vể làm người  lương thiện.

Bắt đầu từ đây, những bi kịch đau đớn nhất như những cơn giông bão ập xuống quật   vào số phận của Chí. Chí Phèo khi đã mất cả nhân hình và nhân tính thì mất hết tất cả. Chí không chấp nhận trở lại làm người với lí lịch đầy bất hảo, bộ mặt sứt sẹo, hành động côn đồ, Chí Phèo đã làm cho cả làng Vũ Đại ngoài Thị Nở không một ai tôn trọng. Không còn một  chút lương tâm nào hết, vì vậy Chí Phèo bị cả làng Vũ Đại chối bỏ và sa vào tấn bi kịch đau đớn nhất cuộc đời.

Với Ngô Tất Tố; cái  đẹp mà tác giả muốn đềmcập ấy lại là phẩm chất của người phụ nữ và ý thức tự chủ của người đàn  bà lực điền. Đề cao những phẩm giá tốt đẹp của con người; dù sống trong bùn đen của số phận vẫn như bông sen không bị vấy bẩn, ngày càng thanh cao và rực rỡ. Chí Phèo, chị Dậu nghìn  năm không ngủ; và Nam Cao, Ngô Tất Tố vạn năm vẫn còn thức.Phát hiện ra nỗi khổ tột cùng của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến và thể thiện nó trên trang viết qua khám phá bi kịch nội tâm Chí Phèo, Nam Cao đã khẳng định được tuyên ngôn của mình, tìm được chỗ đứng cho tác phẩm đó là sự khám phá sáng tạo và có cái riêng của tác phẩm với phong cách đặc sắc mang tên Nam Cao. Và nhân vật Chí Phèo tạo ra sức ám ảnh không kém hiện tượng nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn, được coi là kinh điển của vặn học hiện thực phê phán đương thời. Đồng thời,, với ngòi bút sắc lạnh nhưng ấm nóng tình người, Nam Cao đã thổi hồn cho nhân vật bước ra khỏi trang văn, đến với thực tại, trở thành  một điển hình nghệ thuật. Viết về cái bi nhưng Nam Cao cũng muốn tô sáng cái đẹp. Sau những cơn say chếnh choáng, Chí vẫn trở lại với con người đích thực của chính mình, Chí lại đòi lương thiện và tự ý thức được tình trạng thực tại của bản thân. Rõ ràng, Nam Cao muốn hướng  người đọc đến cái thiện và tin tưởng rằng dù trong bất cứ giai đoạn, số phận nào của cuộc đời

Từ đó, ta có thể thấy: “Nếu tác giả không có lổi đi riêng thi không bao giờ là nhà văn cả, nếu  anh không cố giọng riêng thì anh khó trờ thành nhà văn thực thụ được’ (Sê-khốp). Những cái tôi  phong cách độc đáo sẽ tạo nên cái đẹp trong thi ca. Góp phần làm phong phú thêm cho thi 1 đàn văn học: Viết về mùa thu, ta có những gam màu tuyệt mĩ trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến lại có cái thu của lá vàng, nai tơ của Lưu Trọng Lư; còn cảm nhận đâu đây vẻ đẹp của

Long ỉanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Viết vể đề tài mùa xuân, hàng trăm cảnh sác đẹp như tiên cảnh sau mỗi vẩn thơ của mỗi ngòi bút đa tài:

Cỏ non xanh tận chân trời Cành ỉê trắng điểm một vài bống hoa.

(Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Tháng giêng ngon như một cặp môi gẩn.

(Vội vàng – Xuân Diệu)

Mỗi nhà van như một loài hoa đơn sắc, chỉ khi kết hợp lại với nhau mới tạo thành một vườn hoa ngát hương. “Cái đẹp của vãn chương chính ỉà cậỉ mang nhiệu dấu ấn của chủ thể sáng tạof ỉà cái riềngỊ cái độc đáo”. Hơn hết, mỗi nhà văn viết về cái đẹp theo một nét riêng thì đó là phương thức tuyên bố khám phá cái đẹp đến mọi hang cụng ngõ hẹp, cho ta có một cái nhìn toàn diện, đa chiểu về cái đẹp; làm đời sống của mỗi con người thêm phong phú và đầy đủ hơn.

Tóm lại, với phong cách độc đáo đã tạo nên dấu ấn riêng cho chức năng thẩm mĩ của văn học, giúp tăng thêm kinh nghiệm cảm thụ thẩm mĩ của người đọc, thúc đẩy khả năng sáng tạo cái đẹp trong họ. Chức năng ¿hẩm mĩ của văn học giúp thanh lọc tâm hồn con người. Thế giới nghệ thuật vừa là hình ảnh của bản thân hiện thực vừa là thế giới của ước mơ, của cái đẹp; của khát vọng. Vãn học nghệ thuật mang đến cho người đọc sự đền bù về mặt thấm mĩ khi cho họ được sống trong thế giới nghệ thuật, nơi mà cái ác, cái bất công sẽ bị trừng trị, cái tốt; cái thiện sẽ được tưởng thưởng; được hạnh phúc. Cái đẹp của văn học không thể bị sở hữu bởi riêng cá nhân nào, cho nên việc cảm thụ cái đẹp là hoàn toàn vô vụ iợi, nó giúp tấm hồn con người được thanh lộc, tránh xà những điều tầm thường trong cuộc sòng thường nhật. Cái đẹp của văn học vô tư nhưng không VÔ tám, mà luốn hướng người đọc đến những suy tư, trăn trở; trách nhiệm về các vấn đề của cuộc sống, của thời đại.

Cái đẹp quả thật là yếu tố tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến đời sống con người. Tuy nhiên, trên thực tế; sự tác động của tác phẩm văn học tới người đọc là sự tác động tổng hợp của nhiềụ yếủ tố chức năng; là một quá trình chuyển hóa phức tạp, biện chứng, ở đổ các yếu tố chức năng xụyên thấm vào nhau. Có thể khái quát rằng; cái đẹp của văn chương nghệ thuật có ý nghĩa khi nó gắn liền với cái chân, cái thiện thì mới thật sự đẹp theo đúng nghĩa của nó. Trong văn chương không có cái đẹp thuần túy về hình thức, không thể có cái đẹp trừu tượng xa lạ yới lí trí và tình cảm đạo đức của con người. Tác phẩm văn học chỉ thật sự chinh phục được trải tim khi chạm khẽ được tâm hồn họ, một cách chân thành nhất. Cho dù khoái cảm thẩm mĩ mà tác phẩm đem lại bao giờ cũng từ hlnh thức nghệ thuật, từ sự làm chủ khéo léo của người nghệ sĩ nhưng một khi nhà văn bàng quản trước ríhữrìg vấn đề trọng yếu cua con người, chỉ theo đuổi cái đẹp của ngôn từ, hay những cách tân của hình thức thì chính nó đang tự hủy diệt giá trị đích thực cửa chính mình. Bên cạnh đó, Bertold Brecht cũng có đề cập thêm một khía cạnh nữa của vấn đề : “Cái đẹp không nên chỉ tạo từ ánh sáng kì bỉ của ma trơi, hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, đèn màu cầu kì nhuộm hàng trăm sắc. Đẹp nhất ỉà khi anh tạo nên ánh sáng ban ngày, thử ánh sáng tường như ìchông màu, khổng sắc nhưng đó là í thứ ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích cho con ngxiời”.

 

t.; Nhà thơ lúc nào cũng kín đáo, tinh tế; không ồn ào mà sâu sắc thâm trầm, và cái đẹp ựợc thực hiện không bốc lên ở bề mặt, mà có sức lắng đọng ở chiểu sâu. Nhưng dù thể hiện bình diện nào thì muôn đời văn chương đều phải đẹp, cái đẹp đọng ở ngòi bút của tác giả

-Ï” . . f                                      t f                               1       V. _ J \ » V_______________________ / 1_ ‘ A i__________ \ £ V________ 1 A                             1__ Ạ _               . y _ J 2,_______________ ạ’_____ A _ _ V _                                            /n Ị 1 r 1 A                                                                 4 *             1

¿.thân một dấu;ấn riêng để gộp vào; cái mĩ muôn đời của thi ca, đồng thời độc giả cung phải s Ịằặng lực cảm nhận những bức thông điệp đẹp mà nhà văn đã gửi gắm! Có thể hiểu, nhà “ậtlà kẻ kí mã, thống qua bộ mã (tác phẩm) người đọc phải giải mã nó, khi đó, hành trình ¿Ị cái đẹp mới thật sự trọn vẹn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*