Bài văn mẫu của học sinh giỏi về truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

Đề bài: “Ở mỗi truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó, có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như nhãn tự trong thơ vậy”

Nguyễn Đăng Mạnh-

Anh (chị) hãy phân tích tác phẩm “Chí Phèo” để làm rõ nhận định trên.

Bản quyền bài viết này thuộc về http://thuvienvanmau.net/̉. Mọi hành động sử dụng lại nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Bài làm

Đã có ý kiến cho rằng: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Đúng như vậy! Chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tác phẩm. Chi tiết có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác câu tứ nghệ thuật của nhà văn trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm. Chính vì thế, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định: “Ở mỗi truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó, có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như nhãn tự trong thơ vậy”. Minh chứng rõ ràng nhất cho nhận định trên là tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.

Đầu tiên, ta thấy trong ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh có nhắc đến hai chữ “chi tiết”. Chi tiết hay nói chính xác hơn là chi tiết nghệ thuật là những yếu tố nhỏ lẻ của tác phẩm nhưng mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. Tác phẩm nghệ thuật lôi cuốn người đọc là nhờ nhiều yếu tố trong đó chi tiết đóng vai trò quan trọng. Thường thường, truyện ngắn cô đọng hàm súc về dung lượng nên mọi chi tiết đều phải có sự lựa chọn kĩ lưỡng của nhà văn. Chi tiết này dẫn đến chi tiết khác tạo nên sự hấp dẫn, mang theo chiều sâu ý nghĩa của tác giả gửi gắm qua tác phẩm. Thậm chí, có những chi tiết trong tác phẩm có một vị trí đặc biệt quan trọng như “nhãn tự” tức con mắt trong thơ tứ tuyệt. Chi tiết góp phần hình thành tính cách nhân vật, chủ đề tác phẩm khẳng định sự tinh tế, độc đáo, tài hoa của nhà văn. Cách đánh giá của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh không chỉ đặt ra yêu cầu sáng tạo các chi tiết độc đáo. Truyện ngắn “Chi Phèo” của Nam Cao được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo ra các chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Trong “Chí Phèo” ta có thể thấy rằng có rất nhiều các chi tiết đặc sắc tạo nên giá trị của tác phẩm như chi tiết tiếng chửi của Chí ở đầu truyện, chi tiết cái bóng, chi tiết tỉnh rượu sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở ở bờ sông, đặc biệt, nhãn tự của bài có thể được xem là chi tiết bát cháo hành và hơi cháo hành, rồi chi tiết Chí ôm mặt khóc vì bị Thị từ chối, cuối cùng là chi tiết giết Bá Kiến… Các chi tiết trên có một vị trí đặc biệt trong tác phẩm và thể hiện được tài năng của nhà văn.

Trước tiên, ngay từ mở đầu tác phẩm, ta thấy xuất hiện một chi tiết khá độc đáo. Đó chính là chi tiết Chí Phèo chửi. Chí Phèo xuất hiện lần đầu tiên trước mặt người đọc không phải bằng xương bằng thịt mà là bằng tiếng chửi. Chí vừa đi vừa chửi “chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”. Đó là tiếng chửi vật vã, đau đớn của một thân phận con người ít nhiều nhận thức được bi kịch của chính mình. Chí đã bị đánh bật ra khỏi cái xã hội của loài người. Xã hội mà dù sống trong nó Chí cũng không còn được xem là con người nữa. Nam Cao rất tinh tế trong việc đưa chi tiết này lên đầu câu chuyện bởi đây vừa là cái nền cho sự tò mò của người đọc về thân phận Chí vừa là chi tiết thể hiện được thái độ xót xa, thương cảm của chính nhà văn.

Với chi tiết tiếng chửi của Chí Phèo, Nam Cao đã khéo léo đưa người đọc vào một tuổi thơ đầy cay đắng, bất hạnh của kiếp người. Chí sinh ra gắn liền với con số không: không cha, không mẹ, không họ hàng thân thích… Chí là một đứa con bị bỏ rơi bên chiếc lò gạch cũ, được dân làng truyền tay nhau nuôi nấng. Lớn lên, Chí hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà người khác, năm hai mươi tuổi thì làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Chí là một anh nông dân hiền lành, biết ghét những gì mà người ta cho là đáng khinh. Chí đã từng có một ước mơ giản dị “Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Thế nhưng, chỉ với cái cơn ghen vu vơ của lão Bá Kiến, cái ước mơ ấy đã bị bóp nghẹt và Chí bị đẩy vào nhà tù thực dân. Sau bảy tám năm ra tù, con người Chí hoàn toàn khác. Cả nhân hình và nhân tính cũng bị thay đổi. Chí Phèo trở về mà không ai nhận ra “cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông ghớm chết…”  Cả nhân tính cũng biến dạng. Từ một anh nông dân hiền lành như đất giờ thì trở thành một thằng say, về hôm trước hôm sau đã uống rượu đến xế chiều và say khướt. Rồi cũng từ đó, Chí trở thành tay sai đắc lực cho lão Bá Kiến sống bằng máu và nước mắt của dân làng Vũ Đại. Trước kia, thì hiền lành, giàu lòng tự trọng giờ đây Chí trở nên ghớm ghiếc, dữ tợn với bộ dạng của một teenn lưu manh, côn đồ, một thằng liều mạng thậm chí là một con quỷ dữ.

Tưởng rằng Chí sẽ bị trượt dài trên con đường lưu manh nhưng Thị Nở xuất hiện ở với Chí trong một đêm trăng sáng đã nâng đỡ con người kia dậy. Buổi sáng hôm sau khi thức dậy Chí đã hoàn toàn tỉnh rượu. Chi tiết Chí Phèo tỉnh rượu sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở ở bờ sông đã khẳng định một điều rằng phần người trong Chí Phèo vân đang còn tồn tại. Lần đầu tiên trong cuộc đời Chí Phèo tỉnh dậy chợt nhận ra nơi căn lều ẩm thấp là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe được tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo trên sông, tiếng lao xao của người bán vải về… Những âm thanh ấy ngày nào mà chả có nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Một con quỷ dữ mà cũng cảm nhận được những điều tinh tế đó sao? Từ khi ra tù về, đây là lần đầu tiên Chí Phèo thấy tỉnh. Nhưng qua chi tiết này ta thấy rằng Nam Cao không trách, không giận Chí Phèo mà ngòi bút của ông dành cho nhân vật này vẫn nồng nàn yêu thương. Ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật vẫn là bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mạnh mẽ, tha thiết. Và Chí Phèo tỉnh dậy cũng là chi tiết nghệ thuật đặc sắc làm nên chất thơ cho tác phẩm. Chính cuộc sống đã lay động tiềm thức xa xôi của Chí, nó như từng giọt nước thổi vào tâm hồn khô cằn, sỏi đá của Chí và hơn hết, nó làm sống dậy một ước mơ thời trai trẻ: “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”.

Tiếp ngay sau đó, một chi tiết có thể được xem là “nhãn tự” của truyện ngắn này đó chính là chi tiết bát cháo hành và hơi cháo hành. Khi Chí Phèo đang suy nghĩ sau cơn tỉnh rượu thì với bàn tay ân cần của mình, Thị Nở đã khơi dậy trong Chí phần người bằng một bát cháo hành. Bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc góp phần thức tỉnh phần người trong con quỷ dữ. Kỳ diệu làm sao bát cháo hành Thị Nở, là một liều tiên dược vừa gải cảm vừa giải độc. Cháo hành đã tẩy đi ố men rượu, gột rửa những tội lỗi của con người. Cháo hành có hương vị đặc biệt quá, những kẻ vô nhân tính như cha con nhà Bá Kiến làm sao mà biết được. Đó là hương vị của tình người, của tình thương và tình yêu- một thứ tình cảm mộc mạc và chân thành. Khi cả làng Vũ Đại không chấp nhận Chí là con người thì Thị Nở đã dang rộng vòng tay để đón lấy anh. Và bát cháo hành kia vô hình chung đã sưởi ấm cho trái tim nguội lạnh và mở đầu cho một mối thiên duyên. Nhìn bát cháo hành bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến, bâng khuâng. Hắn ăn cháo hành và lấy làm mãn nguyện vì vị ngon của nó. Chí Phèo quen sống với một kiểu định nghĩa: muốn có cái ăn hắn phải kêu làng, phải rạch mặt ăn vạ, hắn phải thực sự hóa thân thành con quỷ dữ… Mỗi miếng ăn hàng ngày của Chí phải có máu và nước mắt của người dân làng Vũ Đại. Nhưng hôm nay dường như cái triết lí sống của Chí đã thay dổi, những gì hắn có giờ đã phản bội lại hắn. Hơn thế từ xưa đến nay, Chí luôn phải đi phục tùng cho người khác thế mà giờ đây lần đầu tiên, trong cuộc đời, Chí Phèo được hưởng sự chăm sóc bởi bàn tay của một phụ nữ và hắn đã khóc. Cảm giác hạnh phúc được sống trong tình thương đã đánh thức chất người trong Chí- cái bản chất lương thiện lâu nay đã tưởng chết hẳn trong cái lốt của một con quỷ dữ. Chi hiểu ra rằng người ta sống với nhau không chỉ bằng tội ác mà còn cả bằng tình thương yêu nữa. Chí đã thực sự hiểu ra chính mình, đã thực sự thay đổi.

Song song cùng với bát cháo hành là hơi cháo hành. Dường như cái hơi cháo hành đã làm mắt của Chí ươn ướt, nó phảng phất phục sinh phần người trong Chí… Hắn có thể sống với người ta bằng tình yêu, hắn nhen nhóm ước mơ về một cuộc sống bình dị… Hương cháo là hương cuộc đời, hương tình yêu mà từ trước đến giờ chưa ai cho Chí cả… Hương cháo giản dị, mộc mạc đến đơn sơ nhưng bao nhân tính ẩn chứa, nó giữ chân Chí Phèo đứng lại ở bờ của phần người… Nhìn Thị hắn như muốn khóc, hắn cảm động và ngay trong chốc lát “Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với Thị như làm nũng với mẹ…” Đó là giây phút mà hắn người nhất. Đã hai lần Thị Nở đã phải thốt lên “Ôi sao mà hắn hiền!” rồi “Những lúc tỉnh táo hắn cười nghe thật hiền”. Cảm giác được yêu thương và chở che đã làm Chí trỗi dậy một tình yêu cuộc sống. Phần quỷ tạm thời rũ bỏ. Đó là giây phút Chí thèm lương thiện và khát khao làm hòa với mọi người. Rồi đến khát vọng hạnh phúc với Thị Nở “Giá cứ như thế này mãi thì tốt nhỉ…” hay “mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”

Và rồi khi biết bà cô Thị Nở ngăn không cho Thị Nở lấy mình, Chí đau đớn và phẫn nộ. Chí lại uống rượu nhưng càng uống lại càng tỉnh, càng buồn. Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Đó là hương vị được hạnh phúc, được yêu thương, được làm người, hắn đã một lần nếm và không thể quên được nên không thể quay lại kiếp sống của một con vật. Chí đã muốn hoàn lương nhưng cái định kiến xã hội đã đẩy Chí đi xa và không còn cho Chí được trở về với cuộc sống của con người nữa. Càng nghĩ ta càng thấy thương hơn là căm hận Chí, thấy đồng cảm hơn là thấy trách móc Chí. Tóm lại, hình ảnh bát cháo hành và hơi cháo hành góp phần khắc sâu thêm chủ đề của truyện. Miêu tả tấn bi kịch bị tước đoạt quyền làm người của người nông dân nghèo trong xã hội cũ, đồng thời cũng biểu hiện một tư tưởng của Nam Cao: tội ác hủy diệt tính người nhưng tình thương sẽ cứu rỗi linh hồn con người.

Cũng là khi Thị Nở bỏ Chí Phèo, ta thấy có một chi tiết Chí ôm mặt ngồi khóc. Đây cũng chính là chi tiết khá quan trọng. Chí Phèo muốn được hạnh phúc nhưng xã hội không cho phép cái hạnh phúc của một kẻ không cha, không mẹ như Chí được tồn tại. Một kẻ lưu manh cũng biết ngồi khóc ư? Không! Lúc này đây Chí không phải là một kẻ lưu manh nữa mà đã là một con người có tình cảm, có nhận thức. Tội nghiệp cho Chí, một quyền bình đẳng như con người, một quyền được mưu cầu hạnh phúc cũng không có mà Chí chỉ còn một con đường duy nhất để sống đó chính là hóa thân vào kiếp thú vật, vào kiếp quỷ dữ.

Cuối cùng, xung đột giữa khát vọng và hoàn cảnh đã dẫn đến chi tiết cuối cùng của câu chuyện là Chí Phèo kết liễu Bá Kiến.  Nhận ra rằng kẻ làm cho mình ra nông nỗi này chính là Bá Kiến, mặc dù Chí Phèo định xách dao đến tìm giết con “khọm già” và con “đĩ Nở” kia nhưng những bước chân của Chí lại dẫn hắn đến nhà Bá Kiến. Chí đã thấm thía tội ác của kẻ đã cướp đi tư cách làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình. Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh đòi quyển làm người.

  • Tao muốn làm người lương thiện
  • Ai cho tao lương thiện?

Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân. Câu hỏi đánh thẳng vào bộ mặt của xã hội bất lương. Câu hỏi như cứa vào tâm can người đọc về một thân phận con người đầy cay đắng trong xã hội cũ. Lương thiện có ngay trong mỗi con người là di sản tinh thần của mỗi con người. Tại sao phải đi đòi lương thiện? Đó chính là vì cái xã hội vô nhân tính ấy cướp đi mất. Thương thay cho Chí, ngay cả cái quyền làm người ấy cũng đã bị cái xã hội ấy bóp nát. Và Chí Phèo cũng đã kết liễu cuộc đời mình sau khi kết liễu tên cáo già Bá Kiến. Cái chất bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo đồng thời là tiếng kêu cứu về quyền làm người trong xã hội ấy.

Có thể nói rằng các chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn rất đặc sắc, góp phần không nhỏ tạo nên thành công cho tác phẩm và cho nhà văn, thể hiện khả năng khái quát hiện thực và sáng tạo nghệ thuật của Nam Cao. Từ những chi tiết liền kề, gắn kết với nhau cho ta thấy được cảnh nông thôn Việt Nam trước cách mạng tồn tại hai giai cấp đối lập là nông dân cần lao và bọn thống trị, hơn nữa, còn cho ta thấy rằng quá trình tha hóa, biến chất của người nông dân vì bị đói, bị rét, bị áp bức, bóc lột.

Mặt khác, quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là qua trình lao động công phu, chắt lọc từng chi tiết nhỏ trong đời sống để tạo nên những chi tiết nghệ thuật sáng giá. Trong truyện ngắn Chí Phèo, ta có thể coi là trung tâm của toàn câu chuyện thể hiện cách nhìn và tấm lòng nhân đạo của nhà văn điển hình là chi tiết bát báo hành và hương cháo hành. Nhà văn đã như hóa thân và cảm thông với số phận của người nông dân trước cách mạng.

Đúng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “Ở mỗi truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó, có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như nhãn tự trong thơ vậy”. Mỗi chi tiết trong tác phẩm góp phần như mắt xích vậy. Càng đọc Chí Phèo của Nam Cao ta càng hiểu đúng về nhận định trên cũng như biết thế nào là chi tiết nhỏ làm nên tác phẩm lớn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*